Hiển thị các bài đăng có nhãn thu-tuc-hai-quan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thu-tuc-hai-quan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thương mại biên giới Việt- Trung: Cần chính sách cho nông sản xuất khẩu

Thương mại Việt- Trung có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội vùng biên, song, cơ sở hạ tầng tại các cửa khẩu phụ vẫn chưa được đầu tư xây dựng, đặc biệt phía Trung Quốc chưa đầu tư xây dựng hệ thống bến bãi tập kết, giao nhận hàng hóa nên dẫn đến ùn tắc ảnh hưởng tới hoạt động XNK, nhất là các mặt hàng nông sản XK của Việt Nam.

Hiệu quả chưa đồng đều
Hiện tuyến biên giới Việt - Trung chiếm 85% tổng kim ngạch mua bán, trao đổi hàng hóa qua cửa khẩu biên giới. Thống kê số liệu tổng hợp báo cáo của 6 Cục Hải quan biên giới tiếp giáp với Trung Quốc thì trị giá hàng XK sang Trung Quốc năm 2015 đạt 17,141 tỷ USD; trị giá hàng NK từ Trung Quốc đạt 49,526 tỷ USD; trị giá hàng tạm nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam để tái xuất sang nước khác đạt 1,541 tỷ USD; trị giá hàng tạm nhập từ nước khác vào Việt Nam để tái xuất sang Trung Quốc đạt 3,016 tỷ USD.

Ông Nguyễn Công Trưởng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn (đại diện Tiểu ban công tác cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn) cho biết: Là một tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc nên hoạt động thương mại biên giới ở Lạng Sơn trong năm 2015 diễn ra khá sôi động khi Lạng Sơn có tới 5 huyện biên giới, 1 cửa khẩu chính, 9 cửa khẩu phụ và 253 km đường biên giới. Giao thương với Trung Quốc đạt gần 4 tỷ USD, trong đó hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc đạt 1,6 tỷ USD. Chỉ tính riêng hàng nông sản, hoa quả XK sang Trung Quốc qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đạt 1 tỷ USD, chủ yếu xuất qua cửa khẩu Tân Thanh.

Theo ông Nguyễn Công Trưởng, dù kim ngạch xuất khẩu hoa quả sang Trung Quốc lớn nhưng phía Trung Quốc chỉ nhận hàng qua cửa khẩu Tân Thanh khiến cho hàng hóa bị ùn ứ tại cửa khẩu. Trong khi đó, phần lớn sản phẩm như dưa hấu, thanh long, nhãn, xoài, chuối xanh... của Việt Nam lại xuất sang Trung Quốc. Riêng trong năm 2015, lượng hàng nông sản xuất sang Trung Quốc rất lớn: Dưa hấu là 200 nghìn tấn, thanh long khoảng 600 nghìn tấn, vải thiều trên 200 nghìn tấn... Trung bình mỗi ngày có khoảng 800-1.000 xe hàng xuất qua cửa khẩu Tân Thanh. Trong khi đó, bến bãi phía Trung Quốc khá chật hẹp, mỗi ngày chỉ thu mua được 250-350 xe. Mặt khác hàng hóa của Việt Nam bán theo tính chất thỏa thuận, không có hợp đồng XK ràng buộc do vậy công tác thông quan cũng bị ảnh hưởng.

Hoạt động thương mại biên giới là “đòn bẩy” thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng trên những địa bàn biên giới trọng yếu. Tuy nhiên, hiệu quả mà công tác quản lý hoạt động thương mại biên giới vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế chưa đồng đều tại các tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc.

Tại hội nghị sơ kết 3 năm triển khai hoạt động của Ủy ban Hợp tác quản lý cửa khẩu Việt Nam (Ủy ban Cửa khẩu) diễn cuối tháng 2 vừa qua, đại diện Tiểu ban công tác cửa khẩu của 7 tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên) đã báo cáo kết quả về hợp tác quản lý cửa khẩu trong việc tạo thuận lợi cho XK nông sản qua cửa khẩu biên giới đất liền. Theo đó, chỉ có đại diện Tiểu ban công tác cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn báo cáo chi tiết hiệu quả mà công tác này mang lại, đại diện 6 Tiểu ban còn lại chưa đánh giá sát kết quả của hoạt động biên giới trong việc tạo thuận lợi cho XK nông sản. Điều này chứng tỏ, hiệu quả của hoạt động hợp tác, quản lý cửa khẩu trong việc tạo thuận lợi cho XK nông sản cũng như triển khai biện pháp giúp thông quan nông sản của Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức.

Cũng theo đánh giá từ Ủy ban Cửa khẩu, đơn vị này đã chủ động chỉ đạo các Tiểu ban mở rộng bến bãi, kho hàng, đầu tư trang thiết bị gắn liền với đơn giản hóa quy trình thủ tục thông quan, kéo dài thời gian mở cửa khẩu nhằm giải quyết nhanh chóng thuận tiện cho người, phương tiện, hàng hóa qua lại cửa khẩu, nhưng công tác quản lý vẫn còn một số vấn đề tồn tại, hạn chế chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế phát triển thương mại biên giới của Việt Nam với các nước có chung biên giới.

Chia sẻ về những hạn chế tại tuyến biên giới Việt-Trung, đại diện Vụ Thương mại Biên giới và Miền núi (Bộ Công Thương) cho biết, hiện tại một số cửa khẩu, lối mở biên giới, hàng hóa hợp pháp xuất xứ Việt Nam được mở tờ khai, làm thủ tục đầy đủ bên phía Việt Nam (hình thức chợ biên giới theo quy định của Trung Quốc), nhưng phía Trung Quốc yêu cầu chuyển tải sang xe biên mậu để đưa sang Trung Quốc theo hình thức chợ biên giới, nhằm tận dụng chính sách ưu đãi 8.000 nhân dân tệ/người/ngày của Trung Quốc. Cách làm này gây chậm trễ, bất tiện cho thông quan hàng hóa của DN Việt Nam.

Cần chính sách đặc thù
Để phát triển được thương mại biên giới, thúc đẩy giao thương giữa Việt-Trung, đại diện Tổng cục Hải quan (thành viên của Ủy ban Cửa khẩu) nêu, hiện nay nhiều cửa khẩu cơ sở hạ tầng vẫn chưa được đầu tư xây dựng, đường giao thông vận chuyển hàng hóa còn khó khăn. Đặc biệt, phía Trung Quốc chưa đầu tư xây dựng hệ thống bến bãi tập kết giao nhận hàng hóa XNK đảm bảo nên thường xảy ra ùn tắc khi lượng hàng lớn cần NK. Bên cạnh đó, Trung Quốc là nước có chung biên giới với Việt Nam có chế độ chính sách thương mại đặc thù, vì vậy việc sửa đổi, bổ sung các chính sách, quy định thương mại biên giới cần đảm bảo hài hòa với chính sách, quy định thương mại biên giới của nước này trên cơ sở bảo vệ lợi ích, phát triển giao lưu kinh tế, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý.

Đại diện Tổng cục Hải quan cho rằng, Ủy ban Cửa khẩu cũng cần trao đổi với Ủy ban Hợp tác quản lý cửa khẩu phía Trung Quốc và chính quyền các tỉnh biên giới Trung Quốc đầu tư xây dựng hệ thống kho bãi giao nhận và có chính sách quản lý hàng hóa XNK tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hàng hóa XNK, nhất là các mặt hàng nông sản XK của Việt Nam.

Nhấn mạnh về chính sách phát triển này, đại diện Vụ Thương mại Biên giới và Miền núi cho rằng, để quản lý và phát triển thương mại biên giới Ủy ban Cửa khẩu cần tiếp tục phối hợp với phía Trung Quốc thúc đẩy việc đầu tư phát triển hạ tầng thương mại khu vực cửa khẩu biên giới, tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa dịch vụ. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho XK hàng nông sản qua thương mại biên giới, nhất là thời gian vào vụ thu hoạch để XK mặt hàng nông sản.

Trong thời gian tới, nhiều tỉnh đặt mục tiêu phát triển thương mại biên giới với Trung Quốc bởi vai trò cũng như đóng góp to lớn của hoạt động này vào việc tăng nguồn thu cho mỗi tỉnh, đóng góp vào nguồn ngân sách Nhà nước. Xuất phát từ thực tế hiện nay, ông Nguyễn Công Trưởng nhấn mạnh, Ủy ban Cửa khẩu cần tham mưu cho Chính phủ hỗ trợ kinh phí cho các tỉnh biên giới đất liền Việt Nam- Trung Quốc xây dựng các kho hàng nông sản để phân loại, bảo quản lâu dài cho thương nhân Trung Quốc sang mua hàng tại Việt Nam. Đồng thời, cho phép các DN của Trung Quốc được NK hàng nông sản qua các cửa khẩu phụ thuộc địa bàn tỉnh Lạng Sơn; đề xuất Chính phủ thí điểm cho phép Chủ tịch UBND các tỉnh biên giới được phép cho hàng hóa TNTX hàng XK nông sản của Việt Nam được XK qua các điểm thông quan thuộc các mốc gần cửa khẩu phụ, lối mở sang Trung Quốc, có như vậy mới đẩy mạnh thương mại biên giới Việt -Trung lên bước phát triển mới và hỗ trợ cho XK nông sản được thuận tiện, nhanh chóng.

Nguồn Báo Hải Quan.


Xem thêm --> Công ty cung cấp bông sợi vải, công ty quảng cáo ngành dệt may

Gỡ khó về khai thuế và khai bổ sung hồ sơ thuế

Tổng cục Thuế vừa có văn bản hướng dẫn cơ quan thuế địa phương gỡ vướng về khai thuế và khai bổ sung hồ sơ thuế trong quá trình thực hiện Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Thực hiện kê khai, khấu trừ bổ sung
Theo quy định của Luật Quản lý thuế, người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế và nộp đầy đủ chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế.

Tuy nhiên, với các trường hợp người nộp thuế phát hiện hóa đơn, chứng từ của kỳ trước bị bỏ sót chưa kê khai thì phải thực hiện kê khai, khấu trừ bổ sung như: Đối với người bán thì hoá đơn đầu ra xuất bán phát sinh kỳ nào thì thực hiện khai bổ sung, điều chỉnh kỳ tính thuế phát sinh hoá đơn đó theo quy định.

Đối với người mua, thời điểm phát hiện hóa đơn bỏ sót kỳ nào thì kê khai, khấu trừ bổ sung tại kỳ tính thuế phát hiện hoá đơn bỏ sót nhưng phải trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.

Liên quan đến việc người nộp thuế khai bổ sung dẫn đến tăng hoặc giảm số thuế khấu trừ dẫn tới trường hợp người nộp thuế không đủ điều kiện hoàn thuế, thì người nộp thuế phải tự tính tiền chậm nộp trên số tiền thuế tăng và phải nộp lại toàn bộ số tiền thuế đã hoàn sai và bị tính tiền chậm nộp. Đối với trường hợp số thuế không đủ điều kiện hoàn nhưng đủ điều kiện khấu trừ được khai bổ sung vào tờ khai thuế giá trị gia tăng (GTGT) của kỳ lập hồ sơ khai thuế hiện tại.

Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, hồ sơ khai thuế (HSKT) nộp cho cơ quan thuế trong thời hạn quy định có đánh dấu “Lần đầu” gọi là HSKT chính thức. Trường hợp người nộp thuế nộp nhiều HSKT trong thời hạn quy định có đánh dấu “Lần đầu” thì HSKT nộp cuối cùng trước khi hết hạn gọi là HSKT chính thức.

Trường hợp trong thời hạn quy định người nộp thuế chưa nộp HSKT, thì HSKT nộp lần đầu tiên sau khi hết thời hạn nộp HSKT có đánh dấu “Lần đầu” gọi là HSKT chính thức nộp chậm.

HSKT nộp cho cơ quan thuế sau thời hạn quy định và có đánh dấu “Bổ sung lần thứ ...” để điều chỉnh, bổ sung cho HSKT chính thức hoặc HSKT chính thức nộp chậm thì gọi là HSKT bổ sung.

Khai thuế GTGT đối với dự án đầu tư
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, trường hợp người nộp thuế thành lập mới từ dự án đầu tư (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì lập hồ sơ khai thuế GTGT của dự án đầu tư là tờ khai thuế giá trị gia tăng mẫu số 02/GTGT.

Trường hợp người nộp thuế đang hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (kê khai tờ khai 01/GTGT) có dự án đầu tư (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán), thì lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư (kê khai tờ khai 02/GTGT) và phải bù trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư với thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện. Số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh.

Ngoài ra, trường hợp người nộp thuế đã đề nghị hoàn và được giải quyết hoàn thuế, cơ quan thuế ban hành quyết định hoàn thuế kèm theo thông báo không được hoàn một phần số thuế đã đề nghị hoàn và cho phép chuyển kê khai khấu trừ tiếp thì: Căn cứ Thông báo không được hoàn của cơ quan thuế, người nộp thuế kê khai số thuế được chuyển khấu trừ tiếp vào chỉ tiêu “Điều chỉnh tăng thuế GTGT còn được khấu trừ của các kỳ trước” trên tờ khai GTGT của kỳ tính thuế nhận được thông báo của cơ quan thuế.

Trường hợp người nộp thuế đã dừng khấu trừ và lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi cơ quan thuế nhưng chưa được cơ quan thuế giải quyết hoàn, người nộp thuế có văn bản giải trình ghi rõ số thuế đề nghị hoàn, số thuế không đề nghị hoàn do tự loại một số hóa đơn không đủ điều kiện hoàn của một hay nhiều kỳ tính thuế thuộc kỳ hoàn thuế. Cơ quan thuế xét hoàn theo hồ sơ đề nghị hoàn và văn bản giải trình của người nộp thuế, không yêu cầu người nộp thuế phải khai bổ sung các tháng thuộc kỳ hoàn thuế để điều chỉnh giảm số khấu trừ.

Trong quá trình thanh tra, kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế tại trụ sở người nộp thuế, đoàn thanh tra, kiểm tra phát hiện tăng số thuế GTGT phải nộp hoặc giảm số thuế GTGT được khấu trừ thì xác định lại nghĩa vụ thuế GTGT của người nộp thuế kể từ kỳ tính thuế phát hiện tăng số thuế GTGT phải nộp hoặc giảm số thuế GTGT được khấu trừ đến hết thời kỳ thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm theo quy định./.

Người nộp thuế đã dừng khấu trừ và lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi cơ quan thuế nhưng chưa được cơ quan thuế giải quyết hoàn, người nộp thuế có văn bản giải trình ghi rõ số thuế đề nghị hoàn, số thuế không đề nghị hoàn do tự loại một số hóa đơn không đủ điều kiện hoàn của một hay nhiều kỳ tính thuế thuộc kỳ hoàn thuế.

Nguồn VCCI


Xem thêm -->cong ty giao nhan van chuyen

Kiểm soát chặt tình trạng xuất khẩu quặng đồng, phế liệu đồng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Tổng cục Hải quan vừa yêu cầu Cục Điều tra chống buôn lậu, các Cục Hải quan tỉnh, thành phố tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm hành vi buôn lậu quặng đồng, phế liệu đồng.
www.goldenmark.org - Kiểm soát chặt tình trạng xuất khẩu quặng đồng, phế liệu đồng
Kiểm soát chặt tình trạng xuất khẩu quặng đồng, phế liệu đồng
Theo đó, Tổng cục Hải quan chỉ đạo các lực lượng quản lý, kiểm tra, kiểm soát, bắt giữ, xử lý nghiêm các vụ buôn lậu vận chuyển trái phép quặng đồng, phế liệu đồng.

Đối với các Đội Kiểm soát Hải quan tăng cường công tác thu thập thông tin tuần tra, kiểm soát trên các tuyến biên giới, địa bàn trọng điểm nhằm ngăn chặn hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đối với mặt hàng phế liệu đồng, nguyên liệu đồng dạng thô chưa tái chế; đồng thời không để tình trạng xuất lậu ảnh hưởng đến nền sản xuất trong nước, gây lãng phí tài nguyên, gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế quốc gia.

Các chi cục hải quan cửa khẩu tăng cường thu thập thông tin, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động xuất khẩu mặt hàng trên để đảm bảo xuất khẩu đúng quy định.

Theo nguồn tin của Báo Hải quan, trước đây trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, TP. Hồ Chí Minh, lực lượng Hải quan đã phát hiện một số vụ vi phạm liên quan đến vận chuyển trái phép đồng phế liệu qua biên giới. Trong đó có trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu đồng phế liệu nhưng khi lực lượng Hải quan kiểm tra phát hiện là đồng cục.


Theo Hải Quan Online.

94% doanh nghiệp đánh giá tích cực về cải cách thủ tục hải quan

Sáng 12/11, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tổng cục Hải quan, Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã công bố kết quả khảo sát năm 2015 về mức độ hài lòng của doanh nghiệp (DN) đối với thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan…

Chuyển biến tích cực các chính sách hải quan
Tại lễ công bố, đại diện cho cộng đồng DN, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI cho biết, kết quả khảo sátcho thấy tín hiệu đáng mừng khi các DN đã chủ động tiếp cận và nắm bắt thông tin về pháp luật hải quan.
www.goldenmark.org - Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn phát biểu tại hội nghị.
Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn phát biểu tại hội nghị.
Đại đa số các DN cho biết, 5 năm qua, pháp luật ngành Hải quan đã có những chuyển biếntích cực và khá tích cực. Đặc biệt, thời gian chuẩn bị hồ sơ xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa hoặc số lần đi lại của DN để hoàn tất hồ sơ xét miễn thuế hay hoàn thuế đã có bước giảm đáng kể.

Kết quả khảo sát còn cho thấy, có tới 94% DN đánh giá sự chuyển biến của các chính sách, pháp luật hải quan trong giai đoạn 2010-2015 là tích cực và khá tích cực ở nhiều tiêu trí.

Việc tiếp cận thông tin trên cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan được đánh giá cao nhất, với 89% DN hoàn toàn hài lòng. Tiếp đến là các hình thức tham gia các lớp tập huấn, tham dự đối thoại do cơ quan hải quan tổ chức, trực tiếp tới gặp, gọi điện và gửi công văn với 75% hài lòng; 77% DN cho biết sự hỗ trợ của cơ quan hải quan phần lớn là kịp thời, có 83% DN cho biết sự hỗ trợ này là hoàn toàn hiệu quả.

Những thủ tục có tỷ lệ DN đánh giá là dễ hay rất dễ cao nhất là thủ tục nộp thuế (26%), thủ tục thông quan, kiểm tra hồ sơ (10%) và xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát (10%).

Tuy nhiên, cũng có những thủ tục mà DN đánh giá là khó hay rất khó là thủ tục hoàn thuế, không thu thuế (31%) và thủ tục xét miễn thuế (26%).

Khi phản hồi về một trong những nội dung quan trọng của “kết quả giải quyết công việc” là thực hiện thủ tục hoàn thuế, các DN cho biết, họ chỉ mất 1 hoặc 2 lượt đi lại để hoàn thiện bộ hồ sơ dù là hoàn trước, kiểm tra sau hay kiểm tra trước, hoàn sau.

DN mong muốn hải quan cải cách hơn nữa
Bên cạnh những đánh giá tích cực nêu trên, kết quả khảo sát cũng cho thấy, 82% DN bày tỏ kỳ vọng thủ tục hải quan cần tiếp tục đơn giản hơn nữa.

Đáp lại mong muốn này, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết, Bộ Tài chính rất phần khởi khi những nỗ lực cải cách thủ tục hành chính hải quan, thuế trong thời gian qua của ngành được cộng đồng DN ghi nhận và đánh giá cao.

Tuy nhiên,theo Thứ trưởng,công cuộc cải cách thủ tục hành chính còn nhiều thách thức, yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết 19/NQ-CP về tăng cường các giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đối với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Tài chính là rất cấp bách; đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các bước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

"Trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ chỉ đạo Tổng cục Hải quan tích cực cải cách hành chính, tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động XNK. Bộ Tài chính đã và đang phối hợp với các bộ, ngành nỗ lực tháo gỡ vướng mắc thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK; Phát huy hiệu quả hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS), thúc đẩy triển khai cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN…”, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn nhấn mạnh.

Theo thoibaotaichinhvietnam.vn


Hỗ trợ --> Cước vận tải đường biển
Hỗ trợ --> nhẫn bạc cao cấp
Xem thêm --> công ty cung cấp bông sợi

Xây dựng trung tâm logistics- tránh lãng phí và chồng chéo

(HQ Online)- Việc quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên cả nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ tháng 7-2015, các địa phương đã bắt đầu triển khai nhưng công tác này còn nhiều vấn đề cần giải quyết.

Tại hội thảo “Chiến lược phát triển hệ thống trung tâm logistics Việt Nam” do Tổ chức The Keynesian (Đại học Ngoại thương) tổ chức tại Hà Nội vào ngày 31-10, đánh giá về tình hình phát triển lĩnh vực logistics tại Việt Nam, PGS.TS Trịnh Thị Thu Hương, trường Đại học Ngoại thương cho rằng, ngành logistics của Việt Nam những năm qua tuy đã có sự phát triển, song vẫn còn gặp khó khăn về nguồn vốn và nhân lực. Đặc biệt, khả năng liên kết, kết nối giữa các lĩnh vực trong ngành thành chuỗi hệ thống vẫn chưa được triển khai hiệu quả, việc quản lý của Nhà nước vẫn còn “dẫm chân” lên nhau”.

www.goldenmark.org - Xây dựng trung tâm logistics- tránh lãng phí và chồng chéo
Một trong những khó khăn của việc xây dựng trung tâm logistics là mối liên kết giữa các doanh nghiệp logistics trong nước còn yếu. Ảnh: sưu tầm
Về việc phát triển trung tâm logistics, theo ông Bùi Hồng Minh, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, trung tâm logistics sẽ được xây dựng thành 3 nhóm: trung tâm hạng 1 ở cấp quốc gia và quốc tế, trung tâm hạng 2 ở cấp vùng, tiểu vùng và hành lang kinh tế và trung tâm chuyên dụng.

Tiêu chí của việc lựa chọn dựa vào dung lượng thị trường, khả năng đấu nối thuận tiện với các hệ thống giao thông vận tải, quan hệ chặt chẽ với các đối tác sản xuất, xuất nhập khẩu, lợi thế vị trí, phù hợp với quy hoạch phá triển cơ sở hạ tầng giao thông, kinh tế.

Ở khu vực phía Bắc, hiện đang có tỉnh Bắc Giang xin kế hoạch xây dựng trung tâm hạng 2, hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng cũng đã trình kế hoạch xây dựng trung tâm chuyên dụng.

Tuy nhiên, ông Bùi Hồng Minh cho biết, mặc dù đề xuất đã có nhưng phía Bộ Công Thương vẫn đang yêu cầu các địa phương làm rõ mô hình quản lý, đầu tư phù hợp, quy mô dự án, hướng lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ…

Nói về khó khăn trong việc phát triển và xây dựng trung tâm logistics, ông Đinh Hữu Thạnh, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn BeeLogistics cho hay, vốn đầu tư cho ngành logistics rất lớn, sẽ ít doanh nghiệp trong nước đáp ứng được yêu cầu khi đầu tư vào trung tâm hạng 1 hoặc hạng 2. Hơn nữa, việc xây dựng, quy hoạch nếu không qua phương án đầu thầu sẽ tạo ra thế độc quyền, thiếu tính an toàn và làm tăng chi phí logistics tại Việt Nam.

Đặc biệt, tại một số địa phương, hiểu biết thực sự về bản chất của lĩnh vực logistics còn nhiều hạn chế, thiếu hụt nguồn nhân lực được đào tạo bài bản về logistics và mối liên kết giữa các doanh nghiệp logistics trong nước còn yếu.

Vì thế, để những dự án phát triển trung tâm logistics đạt được hiệu quả, PGS.TS Trịnh Thị Thu Hương đề xuất, các địa phương cần minh bạch thông tin để doanh nghiệp có thể tiếp cận nhanh chóng và lên kế hoạch đầu tư.

Cũng về vấn đề này, TS. Nguyễn Thị Vân Hà, Khoa Vận tải- Kinh tế, Đại học Giao thông Vận tải cho rằng, các dự án cần phải lên kế hoạch tổng thể với những điều kiện liên quan đến lựa chọn địa điểm, mong muốn của doanh nghiệp cũng như các quy hoạch khác của địa phương, cần tránh việc quy hoạch chồng chéo, gây lãng phí cho xã hội.


Hải Quan Online.

Không xác nhận “thông quan” trên tờ khai điện tử in

Trước thực tế có một số công chức hải quan vẫn xác nhận dấu “thông quan” lên tờ khai hải quan hàng hóa đã được thông quan trên hệ thống, Tổng cục Hải quan đã có văn bản thống nhất thực hiện trong toàn ngành về việc ký tên, đóng dấu, xác nhận trên tờ khai hải quan điện tử in.

Theo đó, công chức hải quan không thực hiện ký tên, đóng dấu công chức và xác nhận trên tờ khai hải quan điện tử được in ra từ Hệ thống.
www.goldenmark.org - Không xác nhận “thông quan” trên tờ khai điện tử in.
Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan Gia Thụy (Hải quan Hà Nội). Ảnh: N.Linh
Trường hợp một số cơ quan quản lý nhà nước chưa trang bị được các thiết bị để tra cứu dữ liệu tờ khai hải quan điện tử theo quy định tại khoản 9 Điều 25 Nghị định 08/2015/NĐ-CP, Tổng cục Hải quan sẽ có văn bản hướng dẫn riêng từng trường hợp để hỗ trợ người khai hải quan thực hiện các thủ tục liên quan.

Cho đến thời điểm hiện tại, Tổng cục Hải quan đã có hai văn bản hướng dẫn liên quan đến tờ khai hải quan đối với xe ô tô, xe gắn máy NK, tạm NK (công văn 5259/TCHQ-GSQL) và xác nhận bản kê chi tiết số tổng thành máy, thân máy, tổng thành khung (công văn 6397/TCHQ-GSQL).

Các hướng dẫn của Tổng cục Hải quan trong hai trường hợp trên nhằm tạo điều kiện cho DN có đủ hồ sơ đăng ký lưu hành xe tại cơ quan Công an, trong khi cơ quan này chưa trang bị được các thiết bị để tra cứu dữ liệu tờ khai hải quan điện tử kết nối thông tin với cơ quan Hải quan.

Khoản 9 Điều 25 Nghị định 08/2015/NĐ-CP quy định việc sử dụng tờ khai hải quan điện tử.
Tờ khai hải quan điện tử có giá trị sử dụng trong việc thực hiện các thủ tục về thuế, cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, thủ tục thanh toán qua Ngân hàng và các thủ tục hành chính khác; chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa lưu thông trên thị trường. Các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan sử dụng tờ khai hải quan điện tử phục vụ yêu cầu quản lý, không yêu cầu người khai hải quan cung cấp tờ khai hải quan giấy.

Cơ quan Hải quan có trách nhiệm cung cấp thông tin tờ khai hải quan dưới dạng dữ liệu điện tử cho các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Các cơ quan có liên quan có trách nhiệm trang bị các thiết bị để tra cứu dữ liệu trên tờ khai hải quan điện tử.

N.Linh - Báo Hải Quan Online