Hiển thị các bài đăng có nhãn tin-hai-quan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin-hai-quan. Hiển thị tất cả bài đăng

Tăng cường hợp tác đào tạo giữa Tổng cục Hải quan và Học viện Tài chính

Ngày 16/3/2016, tại trụ sở cơ quan Tổng cục Hải quan đã diễn ra lễ ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Tổng cục Hải quan và Học viện tài chính giai đoạn 2016-2020.

Tham dự buổi lễ có Tiến sỹ Nguyễn Công Bình, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan; Phó Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Trọng Cơ, Giám đốc Học viện Tài chính và đại diện lãnh đạo của hai đơn vị.

Theo bản ghi nhớ, hai đơn vị sẽ duy trì và mở rộng các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu khoa học.

Trong khuôn khổ hợp tác, phòng thực hành nghiệp vụ hải quan tại Học viện Tài chính sẽ được nâng cấp, xây dựng cơ chế thu hút sinh viên tốt nghiệp giỏi làm việc cho ngành hải quan.

Phương châm, mục tiêu hợp tác giai đoạn 2016 - 2020 đã được hai đơn vị xác định, đó là hướng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề của giáo viên, sinh viên Học viện Tài chính và của công chức Hải quan. Góp phần tạo lập và xây dựng đội ngũ CBCC hải quan có đủ phẩm chất, năng lực chuyên môn, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của ngành Hải quan trong tiến trình hiện đại hóa hải quan.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Nguyễn Trọng Cơ nhấn mạnh, biên bản ghi nhớ được ký kết hôm nay sẽ phát huy những kết quả hợp tác thời gian qua để đáp ứng được yêu cầu phát triển của hai đơn vị.

Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Công Bình cho biết, qua hợp tác với Học viện Tài chính giai đoạn 2016- 2020, Tổng cục Hải quan mong muốn được cùng hỗ trợ tham gia đào tạo để cung cấp cho ngành Tài chính nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu cải cách, phát triển, hiện đại hóa ngành.



Nguồn Tổng cục Hải Quan Việt Nam.

Xem thêm--> bong soi, bông cotton, bông sợi, bông ấn độ, giá bông tự nhiên, giá bông phế, sợi viscose, sợi modal, sợi tc, bông nhập khẩu



Thương mại biên giới Việt- Trung: Cần chính sách cho nông sản xuất khẩu

Thương mại Việt- Trung có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội vùng biên, song, cơ sở hạ tầng tại các cửa khẩu phụ vẫn chưa được đầu tư xây dựng, đặc biệt phía Trung Quốc chưa đầu tư xây dựng hệ thống bến bãi tập kết, giao nhận hàng hóa nên dẫn đến ùn tắc ảnh hưởng tới hoạt động XNK, nhất là các mặt hàng nông sản XK của Việt Nam.

Hiệu quả chưa đồng đều
Hiện tuyến biên giới Việt - Trung chiếm 85% tổng kim ngạch mua bán, trao đổi hàng hóa qua cửa khẩu biên giới. Thống kê số liệu tổng hợp báo cáo của 6 Cục Hải quan biên giới tiếp giáp với Trung Quốc thì trị giá hàng XK sang Trung Quốc năm 2015 đạt 17,141 tỷ USD; trị giá hàng NK từ Trung Quốc đạt 49,526 tỷ USD; trị giá hàng tạm nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam để tái xuất sang nước khác đạt 1,541 tỷ USD; trị giá hàng tạm nhập từ nước khác vào Việt Nam để tái xuất sang Trung Quốc đạt 3,016 tỷ USD.

Ông Nguyễn Công Trưởng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn (đại diện Tiểu ban công tác cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn) cho biết: Là một tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc nên hoạt động thương mại biên giới ở Lạng Sơn trong năm 2015 diễn ra khá sôi động khi Lạng Sơn có tới 5 huyện biên giới, 1 cửa khẩu chính, 9 cửa khẩu phụ và 253 km đường biên giới. Giao thương với Trung Quốc đạt gần 4 tỷ USD, trong đó hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc đạt 1,6 tỷ USD. Chỉ tính riêng hàng nông sản, hoa quả XK sang Trung Quốc qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đạt 1 tỷ USD, chủ yếu xuất qua cửa khẩu Tân Thanh.

Theo ông Nguyễn Công Trưởng, dù kim ngạch xuất khẩu hoa quả sang Trung Quốc lớn nhưng phía Trung Quốc chỉ nhận hàng qua cửa khẩu Tân Thanh khiến cho hàng hóa bị ùn ứ tại cửa khẩu. Trong khi đó, phần lớn sản phẩm như dưa hấu, thanh long, nhãn, xoài, chuối xanh... của Việt Nam lại xuất sang Trung Quốc. Riêng trong năm 2015, lượng hàng nông sản xuất sang Trung Quốc rất lớn: Dưa hấu là 200 nghìn tấn, thanh long khoảng 600 nghìn tấn, vải thiều trên 200 nghìn tấn... Trung bình mỗi ngày có khoảng 800-1.000 xe hàng xuất qua cửa khẩu Tân Thanh. Trong khi đó, bến bãi phía Trung Quốc khá chật hẹp, mỗi ngày chỉ thu mua được 250-350 xe. Mặt khác hàng hóa của Việt Nam bán theo tính chất thỏa thuận, không có hợp đồng XK ràng buộc do vậy công tác thông quan cũng bị ảnh hưởng.

Hoạt động thương mại biên giới là “đòn bẩy” thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng trên những địa bàn biên giới trọng yếu. Tuy nhiên, hiệu quả mà công tác quản lý hoạt động thương mại biên giới vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế chưa đồng đều tại các tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc.

Tại hội nghị sơ kết 3 năm triển khai hoạt động của Ủy ban Hợp tác quản lý cửa khẩu Việt Nam (Ủy ban Cửa khẩu) diễn cuối tháng 2 vừa qua, đại diện Tiểu ban công tác cửa khẩu của 7 tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên) đã báo cáo kết quả về hợp tác quản lý cửa khẩu trong việc tạo thuận lợi cho XK nông sản qua cửa khẩu biên giới đất liền. Theo đó, chỉ có đại diện Tiểu ban công tác cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn báo cáo chi tiết hiệu quả mà công tác này mang lại, đại diện 6 Tiểu ban còn lại chưa đánh giá sát kết quả của hoạt động biên giới trong việc tạo thuận lợi cho XK nông sản. Điều này chứng tỏ, hiệu quả của hoạt động hợp tác, quản lý cửa khẩu trong việc tạo thuận lợi cho XK nông sản cũng như triển khai biện pháp giúp thông quan nông sản của Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức.

Cũng theo đánh giá từ Ủy ban Cửa khẩu, đơn vị này đã chủ động chỉ đạo các Tiểu ban mở rộng bến bãi, kho hàng, đầu tư trang thiết bị gắn liền với đơn giản hóa quy trình thủ tục thông quan, kéo dài thời gian mở cửa khẩu nhằm giải quyết nhanh chóng thuận tiện cho người, phương tiện, hàng hóa qua lại cửa khẩu, nhưng công tác quản lý vẫn còn một số vấn đề tồn tại, hạn chế chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế phát triển thương mại biên giới của Việt Nam với các nước có chung biên giới.

Chia sẻ về những hạn chế tại tuyến biên giới Việt-Trung, đại diện Vụ Thương mại Biên giới và Miền núi (Bộ Công Thương) cho biết, hiện tại một số cửa khẩu, lối mở biên giới, hàng hóa hợp pháp xuất xứ Việt Nam được mở tờ khai, làm thủ tục đầy đủ bên phía Việt Nam (hình thức chợ biên giới theo quy định của Trung Quốc), nhưng phía Trung Quốc yêu cầu chuyển tải sang xe biên mậu để đưa sang Trung Quốc theo hình thức chợ biên giới, nhằm tận dụng chính sách ưu đãi 8.000 nhân dân tệ/người/ngày của Trung Quốc. Cách làm này gây chậm trễ, bất tiện cho thông quan hàng hóa của DN Việt Nam.

Cần chính sách đặc thù
Để phát triển được thương mại biên giới, thúc đẩy giao thương giữa Việt-Trung, đại diện Tổng cục Hải quan (thành viên của Ủy ban Cửa khẩu) nêu, hiện nay nhiều cửa khẩu cơ sở hạ tầng vẫn chưa được đầu tư xây dựng, đường giao thông vận chuyển hàng hóa còn khó khăn. Đặc biệt, phía Trung Quốc chưa đầu tư xây dựng hệ thống bến bãi tập kết giao nhận hàng hóa XNK đảm bảo nên thường xảy ra ùn tắc khi lượng hàng lớn cần NK. Bên cạnh đó, Trung Quốc là nước có chung biên giới với Việt Nam có chế độ chính sách thương mại đặc thù, vì vậy việc sửa đổi, bổ sung các chính sách, quy định thương mại biên giới cần đảm bảo hài hòa với chính sách, quy định thương mại biên giới của nước này trên cơ sở bảo vệ lợi ích, phát triển giao lưu kinh tế, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý.

Đại diện Tổng cục Hải quan cho rằng, Ủy ban Cửa khẩu cũng cần trao đổi với Ủy ban Hợp tác quản lý cửa khẩu phía Trung Quốc và chính quyền các tỉnh biên giới Trung Quốc đầu tư xây dựng hệ thống kho bãi giao nhận và có chính sách quản lý hàng hóa XNK tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hàng hóa XNK, nhất là các mặt hàng nông sản XK của Việt Nam.

Nhấn mạnh về chính sách phát triển này, đại diện Vụ Thương mại Biên giới và Miền núi cho rằng, để quản lý và phát triển thương mại biên giới Ủy ban Cửa khẩu cần tiếp tục phối hợp với phía Trung Quốc thúc đẩy việc đầu tư phát triển hạ tầng thương mại khu vực cửa khẩu biên giới, tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa dịch vụ. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho XK hàng nông sản qua thương mại biên giới, nhất là thời gian vào vụ thu hoạch để XK mặt hàng nông sản.

Trong thời gian tới, nhiều tỉnh đặt mục tiêu phát triển thương mại biên giới với Trung Quốc bởi vai trò cũng như đóng góp to lớn của hoạt động này vào việc tăng nguồn thu cho mỗi tỉnh, đóng góp vào nguồn ngân sách Nhà nước. Xuất phát từ thực tế hiện nay, ông Nguyễn Công Trưởng nhấn mạnh, Ủy ban Cửa khẩu cần tham mưu cho Chính phủ hỗ trợ kinh phí cho các tỉnh biên giới đất liền Việt Nam- Trung Quốc xây dựng các kho hàng nông sản để phân loại, bảo quản lâu dài cho thương nhân Trung Quốc sang mua hàng tại Việt Nam. Đồng thời, cho phép các DN của Trung Quốc được NK hàng nông sản qua các cửa khẩu phụ thuộc địa bàn tỉnh Lạng Sơn; đề xuất Chính phủ thí điểm cho phép Chủ tịch UBND các tỉnh biên giới được phép cho hàng hóa TNTX hàng XK nông sản của Việt Nam được XK qua các điểm thông quan thuộc các mốc gần cửa khẩu phụ, lối mở sang Trung Quốc, có như vậy mới đẩy mạnh thương mại biên giới Việt -Trung lên bước phát triển mới và hỗ trợ cho XK nông sản được thuận tiện, nhanh chóng.

Nguồn Báo Hải Quan.


Xem thêm --> Công ty cung cấp bông sợi vải, công ty quảng cáo ngành dệt may

Gỡ khó về khai thuế và khai bổ sung hồ sơ thuế

Tổng cục Thuế vừa có văn bản hướng dẫn cơ quan thuế địa phương gỡ vướng về khai thuế và khai bổ sung hồ sơ thuế trong quá trình thực hiện Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Thực hiện kê khai, khấu trừ bổ sung
Theo quy định của Luật Quản lý thuế, người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế và nộp đầy đủ chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế.

Tuy nhiên, với các trường hợp người nộp thuế phát hiện hóa đơn, chứng từ của kỳ trước bị bỏ sót chưa kê khai thì phải thực hiện kê khai, khấu trừ bổ sung như: Đối với người bán thì hoá đơn đầu ra xuất bán phát sinh kỳ nào thì thực hiện khai bổ sung, điều chỉnh kỳ tính thuế phát sinh hoá đơn đó theo quy định.

Đối với người mua, thời điểm phát hiện hóa đơn bỏ sót kỳ nào thì kê khai, khấu trừ bổ sung tại kỳ tính thuế phát hiện hoá đơn bỏ sót nhưng phải trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.

Liên quan đến việc người nộp thuế khai bổ sung dẫn đến tăng hoặc giảm số thuế khấu trừ dẫn tới trường hợp người nộp thuế không đủ điều kiện hoàn thuế, thì người nộp thuế phải tự tính tiền chậm nộp trên số tiền thuế tăng và phải nộp lại toàn bộ số tiền thuế đã hoàn sai và bị tính tiền chậm nộp. Đối với trường hợp số thuế không đủ điều kiện hoàn nhưng đủ điều kiện khấu trừ được khai bổ sung vào tờ khai thuế giá trị gia tăng (GTGT) của kỳ lập hồ sơ khai thuế hiện tại.

Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, hồ sơ khai thuế (HSKT) nộp cho cơ quan thuế trong thời hạn quy định có đánh dấu “Lần đầu” gọi là HSKT chính thức. Trường hợp người nộp thuế nộp nhiều HSKT trong thời hạn quy định có đánh dấu “Lần đầu” thì HSKT nộp cuối cùng trước khi hết hạn gọi là HSKT chính thức.

Trường hợp trong thời hạn quy định người nộp thuế chưa nộp HSKT, thì HSKT nộp lần đầu tiên sau khi hết thời hạn nộp HSKT có đánh dấu “Lần đầu” gọi là HSKT chính thức nộp chậm.

HSKT nộp cho cơ quan thuế sau thời hạn quy định và có đánh dấu “Bổ sung lần thứ ...” để điều chỉnh, bổ sung cho HSKT chính thức hoặc HSKT chính thức nộp chậm thì gọi là HSKT bổ sung.

Khai thuế GTGT đối với dự án đầu tư
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, trường hợp người nộp thuế thành lập mới từ dự án đầu tư (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì lập hồ sơ khai thuế GTGT của dự án đầu tư là tờ khai thuế giá trị gia tăng mẫu số 02/GTGT.

Trường hợp người nộp thuế đang hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (kê khai tờ khai 01/GTGT) có dự án đầu tư (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán), thì lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư (kê khai tờ khai 02/GTGT) và phải bù trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư với thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện. Số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh.

Ngoài ra, trường hợp người nộp thuế đã đề nghị hoàn và được giải quyết hoàn thuế, cơ quan thuế ban hành quyết định hoàn thuế kèm theo thông báo không được hoàn một phần số thuế đã đề nghị hoàn và cho phép chuyển kê khai khấu trừ tiếp thì: Căn cứ Thông báo không được hoàn của cơ quan thuế, người nộp thuế kê khai số thuế được chuyển khấu trừ tiếp vào chỉ tiêu “Điều chỉnh tăng thuế GTGT còn được khấu trừ của các kỳ trước” trên tờ khai GTGT của kỳ tính thuế nhận được thông báo của cơ quan thuế.

Trường hợp người nộp thuế đã dừng khấu trừ và lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi cơ quan thuế nhưng chưa được cơ quan thuế giải quyết hoàn, người nộp thuế có văn bản giải trình ghi rõ số thuế đề nghị hoàn, số thuế không đề nghị hoàn do tự loại một số hóa đơn không đủ điều kiện hoàn của một hay nhiều kỳ tính thuế thuộc kỳ hoàn thuế. Cơ quan thuế xét hoàn theo hồ sơ đề nghị hoàn và văn bản giải trình của người nộp thuế, không yêu cầu người nộp thuế phải khai bổ sung các tháng thuộc kỳ hoàn thuế để điều chỉnh giảm số khấu trừ.

Trong quá trình thanh tra, kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế tại trụ sở người nộp thuế, đoàn thanh tra, kiểm tra phát hiện tăng số thuế GTGT phải nộp hoặc giảm số thuế GTGT được khấu trừ thì xác định lại nghĩa vụ thuế GTGT của người nộp thuế kể từ kỳ tính thuế phát hiện tăng số thuế GTGT phải nộp hoặc giảm số thuế GTGT được khấu trừ đến hết thời kỳ thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm theo quy định./.

Người nộp thuế đã dừng khấu trừ và lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi cơ quan thuế nhưng chưa được cơ quan thuế giải quyết hoàn, người nộp thuế có văn bản giải trình ghi rõ số thuế đề nghị hoàn, số thuế không đề nghị hoàn do tự loại một số hóa đơn không đủ điều kiện hoàn của một hay nhiều kỳ tính thuế thuộc kỳ hoàn thuế.

Nguồn VCCI


Xem thêm -->cong ty giao nhan van chuyen

Kiểm soát chặt tình trạng xuất khẩu quặng đồng, phế liệu đồng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Tổng cục Hải quan vừa yêu cầu Cục Điều tra chống buôn lậu, các Cục Hải quan tỉnh, thành phố tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm hành vi buôn lậu quặng đồng, phế liệu đồng.
www.goldenmark.org - Kiểm soát chặt tình trạng xuất khẩu quặng đồng, phế liệu đồng
Kiểm soát chặt tình trạng xuất khẩu quặng đồng, phế liệu đồng
Theo đó, Tổng cục Hải quan chỉ đạo các lực lượng quản lý, kiểm tra, kiểm soát, bắt giữ, xử lý nghiêm các vụ buôn lậu vận chuyển trái phép quặng đồng, phế liệu đồng.

Đối với các Đội Kiểm soát Hải quan tăng cường công tác thu thập thông tin tuần tra, kiểm soát trên các tuyến biên giới, địa bàn trọng điểm nhằm ngăn chặn hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đối với mặt hàng phế liệu đồng, nguyên liệu đồng dạng thô chưa tái chế; đồng thời không để tình trạng xuất lậu ảnh hưởng đến nền sản xuất trong nước, gây lãng phí tài nguyên, gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế quốc gia.

Các chi cục hải quan cửa khẩu tăng cường thu thập thông tin, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động xuất khẩu mặt hàng trên để đảm bảo xuất khẩu đúng quy định.

Theo nguồn tin của Báo Hải quan, trước đây trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, TP. Hồ Chí Minh, lực lượng Hải quan đã phát hiện một số vụ vi phạm liên quan đến vận chuyển trái phép đồng phế liệu qua biên giới. Trong đó có trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu đồng phế liệu nhưng khi lực lượng Hải quan kiểm tra phát hiện là đồng cục.


Theo Hải Quan Online.

94% doanh nghiệp đánh giá tích cực về cải cách thủ tục hải quan

Sáng 12/11, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tổng cục Hải quan, Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã công bố kết quả khảo sát năm 2015 về mức độ hài lòng của doanh nghiệp (DN) đối với thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan…

Chuyển biến tích cực các chính sách hải quan
Tại lễ công bố, đại diện cho cộng đồng DN, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI cho biết, kết quả khảo sátcho thấy tín hiệu đáng mừng khi các DN đã chủ động tiếp cận và nắm bắt thông tin về pháp luật hải quan.
www.goldenmark.org - Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn phát biểu tại hội nghị.
Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn phát biểu tại hội nghị.
Đại đa số các DN cho biết, 5 năm qua, pháp luật ngành Hải quan đã có những chuyển biếntích cực và khá tích cực. Đặc biệt, thời gian chuẩn bị hồ sơ xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa hoặc số lần đi lại của DN để hoàn tất hồ sơ xét miễn thuế hay hoàn thuế đã có bước giảm đáng kể.

Kết quả khảo sát còn cho thấy, có tới 94% DN đánh giá sự chuyển biến của các chính sách, pháp luật hải quan trong giai đoạn 2010-2015 là tích cực và khá tích cực ở nhiều tiêu trí.

Việc tiếp cận thông tin trên cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan được đánh giá cao nhất, với 89% DN hoàn toàn hài lòng. Tiếp đến là các hình thức tham gia các lớp tập huấn, tham dự đối thoại do cơ quan hải quan tổ chức, trực tiếp tới gặp, gọi điện và gửi công văn với 75% hài lòng; 77% DN cho biết sự hỗ trợ của cơ quan hải quan phần lớn là kịp thời, có 83% DN cho biết sự hỗ trợ này là hoàn toàn hiệu quả.

Những thủ tục có tỷ lệ DN đánh giá là dễ hay rất dễ cao nhất là thủ tục nộp thuế (26%), thủ tục thông quan, kiểm tra hồ sơ (10%) và xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát (10%).

Tuy nhiên, cũng có những thủ tục mà DN đánh giá là khó hay rất khó là thủ tục hoàn thuế, không thu thuế (31%) và thủ tục xét miễn thuế (26%).

Khi phản hồi về một trong những nội dung quan trọng của “kết quả giải quyết công việc” là thực hiện thủ tục hoàn thuế, các DN cho biết, họ chỉ mất 1 hoặc 2 lượt đi lại để hoàn thiện bộ hồ sơ dù là hoàn trước, kiểm tra sau hay kiểm tra trước, hoàn sau.

DN mong muốn hải quan cải cách hơn nữa
Bên cạnh những đánh giá tích cực nêu trên, kết quả khảo sát cũng cho thấy, 82% DN bày tỏ kỳ vọng thủ tục hải quan cần tiếp tục đơn giản hơn nữa.

Đáp lại mong muốn này, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết, Bộ Tài chính rất phần khởi khi những nỗ lực cải cách thủ tục hành chính hải quan, thuế trong thời gian qua của ngành được cộng đồng DN ghi nhận và đánh giá cao.

Tuy nhiên,theo Thứ trưởng,công cuộc cải cách thủ tục hành chính còn nhiều thách thức, yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết 19/NQ-CP về tăng cường các giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đối với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Tài chính là rất cấp bách; đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các bước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

"Trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ chỉ đạo Tổng cục Hải quan tích cực cải cách hành chính, tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động XNK. Bộ Tài chính đã và đang phối hợp với các bộ, ngành nỗ lực tháo gỡ vướng mắc thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK; Phát huy hiệu quả hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS), thúc đẩy triển khai cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN…”, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn nhấn mạnh.

Theo thoibaotaichinhvietnam.vn


Hỗ trợ --> Cước vận tải đường biển
Hỗ trợ --> nhẫn bạc cao cấp
Xem thêm --> công ty cung cấp bông sợi

Hàng nông, thủy sản xuất khẩu bị trả về: Đi đâu?

Thời gian qua, tình trạng nông, thủy sản XK của Việt Nam bị trả về được đánh giá khá nguy cấp. Bên cạnh nguyên nhân như sai bao bì, quy cách đóng gói, các sản phẩm còn bị thị trường NK chối từ do không đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm theo quy định.
www.goldenmark.org - Hàng nông, thủy sản xuất khẩu bị trả về: Đi đâu?
www.goldenmark.org - Hàng nông, thủy sản xuất khẩu bị trả về: Đi đâu?

"Luộc lên là ăn được"

Theo Bộ NN&PTNT, trong năm 2015, các lô hàng vi phạm bị phát hiện qua kiểm tra chứng nhận an toàn thực phẩm thủy sản XK tăng cao. Năm 2014, có 159 lô hàng bị phát hiện vi phạm quy định bảo đảm an toàn thực phẩm và 68 lô bị phát hiện vi phạm quy định hóa chất kháng sinh. Chỉ trong 9 tháng đầu năm 2015, con số các lô hàng vi phạm lần lượt là 165 và 78 lô. Đối với hàng XK, theo cảnh báo của các thị trường, 9 tháng đầu năm đã có 181 lô hàng bị cảnh báo về chỉ tiêu kháng sinh cấm sử dụng, kháng sinh hạn chế sử dụng, vi sinh và các cảnh báo khác (cả năm 2014 có 817 lô bị cảnh báo).

Không chỉ đối với mặt hàng thủy sản, thời gian qua một số mặt hàng nông sản XK chủ lực của Việt Nam như chè, hồ tiêu cũng bị nhiều thị trường cảnh báo, trả về do không đảm bảo chất lượng.

Trả lời câu hỏi của phóng viên Báo Hải quan, ông Nguyễn Như Tiệp, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (Nafiqad), Bộ NN&PTNT cho biết: Suốt thời gian qua, tổng số lô hàng nông, thủy sản bị trả về khó kiểm soát một cách cụ thể, chính xác. Tính chung 9 tháng đầu năm, nông, thủy sản XK của Việt Nam bị một số thị trường gia tăng cảnh báo nhưng cũng có một số thị trường lại giảm cảnh báo. Tuy nhiên, hiện tại tình trạng hàng XK bị cảnh báo, trả về tương đối nguy cấp.

Theo ông Nguyễn Văn Đông, Phó Cục trưởng Cục Thú y (Bộ NN&PNT): Báo cáo của cơ quan Thú y ở cửa khẩu cho thấy, hầu hết hàng nông, thủy sản XK bị trả về do đóng gói sai quy cách, nhãn mác, sai thông tin… Một trong những phương án giải quyết đối với hàng trả về là đem vào tiêu thụ nội địa.

Trước băn khoăn của phóng viên về một số mặt hàng bị trả về do không đáp ứng yêu cầu chất lượng của nước NK lại được đem về tiêu thụ trong nước, ông Tiệp lý giải, các mặt hàng thực phẩm sản xuất tiêu thụ trong nước hay XK đều phải đáp ứng các chỉ số về đảm bảo an toàn thực phẩm theo quy định của Bộ Y tế. Do vậy, khi hàng trả về tiêu thụ trong nước cũng không có vấn đề gì. “Một số mặt hàng thủy sản như tôm nếu bị trả do vấn đề chỉ tiêu vi sinh thì chỉ cần luộc lên là có thể ăn được”, ông Tiệp nói.

Tái xuất sang thị trường khác

Trên thực tế, hàng nông, thủy sản XK bị trả về ngoài tiêu thụ trong nước còn được tái xuất sang các thị trường khác. Theo ông Nguyễn Như Tiệp, trong các lô hàng bị trả về một số là bởi sai quy cách đóng gói và cũng có những trường hợp do không đáp ứng tiêu chí chất lượng, chỉ số an toàn thực phẩm của nước NK. Quy định về an toàn thực phẩm của các thị trường NK không giống nhau nên khi hàng bị thị trường này trả về lại được thị trường khác chấp nhận. Ví dụ, có những mặt hàng bị khách hàng tại thị trường EU trả về, song hoàn toàn có thể tái xuất sang các nước khu vực Trung Đông.

Cũng theo ông Nguyễn Như Tiệp, tình hình hàng nông, thủy sản XK bị trả về nếu xử lý vấn đề chưa tốt và sự cải thiện không rõ nét thì rất có thể sẽ dẫn đến hậu quả bị thị trường NK tăng cường kiểm soát thông qua hình thức mọi lô hàng đến cửa khẩu đều phải lấy mẫu kiểm nghiệm, thậm chí nghiêm trọng hơn là bị một số thị trường đình chỉ NK.

“Tuần trước, Nafiqad cùng một số đơn vị như Tổng cục Thủy sản, Cục Thú y đã làm việc với các địa phương cũng như đại diện DN về vấn đề này. Trước tình hình nguy cấp, đặc biệt là hàng thủy sản XK bị trả về nhiều, cần có kế hoạch để cải thiện tồn dư kháng sinh trong thủy sản nói chung và hàng thủy sản XK nói riêng. Nafiqad đang chủ trì, thúc đẩy các giải pháp để tình trạng cảnh báo giảm đi, tránh trường hợp bị các thị trường áp dụng kiểm soát chặt, thậm chí đình chỉ NK”, ông Tiệp nhấn mạnh.

Theo Bộ NN&PTNT, trong 9 tháng đầu năm, có 27 lô hàng thủy sản XK của Việt Nam bị thị trường Nhật Bản cảnh báo nhiễm hóa kháng sinh, tăng 1,28 lần so với cả năm 2014 (21 lô). Số lô hàng bị cảnh báo các chỉ tiêu hóa chất kháng sinh cấm tăng nhiều nhất 3,66 lần. Với thực tế này, cơ quan thẩm quyền Nhật Bản đã áp dụng chế độ kiểm tra chặt đối với các chỉ tiêu bị cảnh báo và có thể sẽ áp dụng biện pháp đình chỉ NK nếu tình hình không được cải thiện.

Tương tự, tại thị trường EU, Việt Nam cũng có 27 lô hàng thủy sản XK bị cảnh báo nhiễm hóa chất kháng sinh trong 9 tháng đầu năm, tăng 1,28 lần so với cả năm 2014. Phía EU đã có văn bản gửi Nafiqad nêu rõ 24 DN chế biến thủy sản của Việt Nam có lô hàng bị phát hiện vi phạm, đồng thời cảnh báo nếu tình hình không được cải thiện rõ rệt sẽ áp dụng các biện bổ sung để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng châu Âu.

Với thị trường Mỹ, số lô hàng cá biển, tôm vi phạm chỉ tiêu kháng sinh là 35, tăng 6 lần so với năm 2014. Australia cũng cho biết sẽ ngừng NK thủy sản Việt Nam nếu tỉ lệ vi phạm dư lượng kháng sinh gia tăng.

Thanh Nguyễn - Hải Quan Online
CÔNG TY TNHH GIAO NHẬN GOLDEN MARK VIỆT NAM
Địa chỉ:122 Đường Nguyễn Hoàng, phường An Phú, quận 2, Tp.HCM
Email: lina@goldenmark.com.vn - website: www.goldenmark.org

skype: lina.khanh - Hotline: 0906.80.94.94(Ms.Khanh)
Hỗ trợ --> Cước vận tải đường biển
Hỗ trợ --> 
Cước vận tải đường biển quốc tế

Mở rộng Đề án thủ tục hải quan điện tử một cửa

Ngày 10-11, Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn và Cục Hải quan TP.HCM tổ chức Hội nghị sơ kết công tác triển khai thí điểm Đề án thủ tục Hải quan điện tử một cửa thông qua Đại lý thủ tục hải quan. Cả DN và cơ quan Hải quan đều mong muốn mở rộng đề án này.
www.goldenmark.org - Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn và Cục Hải quan TP.HCM tổ chức Hội nghị sơ kết công tác triển khai thí điểm Đề án thủ tục Hải quan điện tử một cửa.
Mở rộng Đề án thủ tục hải quan điện tử một cửa

Phó Cục trưởng Cục Hải quan TP.HCM Lê Đình Lợi, cho biết: theo đề án (do Cục Hải quan TP.HCM và Tổng Công ty Tân cảng Sài Gòn xây dựng) Tổng cục Hải quan cho phép Tổng Công ty Tân cảng triển khai thí điểm tại cảng Cát Lái từ tháng 4-2013. Theo đó, Đại lý thủ tục hải quan (ĐLTTHQ) sẽ đại diện khách hàng làm việc với cơ quan Hải quan và các cơ quan quản lý chuyên ngành để thực hiện thủ tục thông quan hàng hóa XNK cho khách hàng, với mục đích tạo thuận lợi, rút ngắn thời gian, giảm chi phí cho DN.

Việc truyền dữ liệu điện tử để khai báo hàng hóa XNK sẽ được sử dụng bằng chữ ký số (Token) của Tổng Công ty Tân cảng Sài Gòn. Quá trình thực hiện giao nhận tại Cảng được thực hiện theo quy trình khép kín từ lúc dỡ hàng đến thủ tục chuyển máy soi (cho các trường hợp kiểm hóa) và khách hàng có thể nhận hàng trực tiếp từ mặt cắt cầu tàu, mà vẫn bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
Báo cáo kết quả sau 2 năm triển khai thí điểm đề án, ông Nguyễn Năng Toàn, Giám đốc SNP Logistics – Tổng Công ty Tân cảng Sài Gòn cho biết, hiện nay có 8 doanh nghiệp tham gia đề án, với số lượng hàng hóa XNK còn hạn chế, gần 840 tờ khai hải quan, tổng kim ngạch trên 92 triệu USD. Theo nhận định của ông Toàn, số lượng khách hàng tham gia chưa đáp ứng được kỳ vọng của lãnh đạo ban ngành các cấp. Nguyên nhân là do chính sách ưu đãi về thủ tục hải quan với các DN cũng chưa rõ nét, chưa nhiều; các DN còn chưa thay đổi được tập quán làm hàng hoặc chưa thấy được lợi ích rõ ràng và khác biệt so với sử dụng dịch vụ khai thuế hải quan.

Bên cạnh đó, còn có lý do đề án bị giới hạn về đối tượng DN, giới hạn về địa bàn và loại hình XNK hàng hóa. Chẳng hạn tiêu chí của đề án chọn DN SXXK làm thủ tục tại Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn khu vực 1, nên đã hạn chế đối tượng DN tham gia. Trong khi đó, hiện nay, SNP logistics đang làm thủ tục cho đối tượng là DN FDI ở các địa bàn khác với kim ngạch XNK rất lớn.

Hiện tại, Tổng Công ty Tân cảng Sài Gòn và Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 mới áp dụng được mô hình hoạt động ĐLTTHQ, chưa triển khai được mô hình Hải quan một cửa do chưa có hệ thống thông tin liên lạc, công nghệ thông tin và cơ chế, chính sách; quy định giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan Hải quan trong phối hợp chưa được thực hiện.

Tại hội nghị, các DN đã tham gia đề án cho rằng, thông qua việc kí hợp đồng với SNP Logistics, doanh nghiệp đã nhận thấy những thuận lợi, hiệu quả khi tham gia thực hiện thủ tục hải quan.
Một số DN chưa tham gia thì cho biết: họ đã được đánh giá là DN chấp hành tốt pháp luật Hải quan nên sẽ liên hệ với SNP Logistics để tham gia đề án này. Tuy nhiên, các DN cũng mong muốn được thấy rõ hơn hiệu quả cụ thể của chương trình về việc giảm thời gian, chi phí khi tham gia đề án; được hưởng tiêu chí phân loại rủi ro đối với DN chấp hành tốt pháp luật hải quan…

Đại diện Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn và Cục Hải quan TP.HCM đã giải đáp nhiều câu hỏi vướng mắc của DN, đồng thời ghi nhận những kiến nghị của DN, với cam kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất để mở rộng đề án, khuyến khích DN tham gia ngày một nhiều…

Lê Thu - Hải Quan Việt Nam.




Xây dựng trung tâm logistics- tránh lãng phí và chồng chéo

(HQ Online)- Việc quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên cả nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ tháng 7-2015, các địa phương đã bắt đầu triển khai nhưng công tác này còn nhiều vấn đề cần giải quyết.

Tại hội thảo “Chiến lược phát triển hệ thống trung tâm logistics Việt Nam” do Tổ chức The Keynesian (Đại học Ngoại thương) tổ chức tại Hà Nội vào ngày 31-10, đánh giá về tình hình phát triển lĩnh vực logistics tại Việt Nam, PGS.TS Trịnh Thị Thu Hương, trường Đại học Ngoại thương cho rằng, ngành logistics của Việt Nam những năm qua tuy đã có sự phát triển, song vẫn còn gặp khó khăn về nguồn vốn và nhân lực. Đặc biệt, khả năng liên kết, kết nối giữa các lĩnh vực trong ngành thành chuỗi hệ thống vẫn chưa được triển khai hiệu quả, việc quản lý của Nhà nước vẫn còn “dẫm chân” lên nhau”.

www.goldenmark.org - Xây dựng trung tâm logistics- tránh lãng phí và chồng chéo
Một trong những khó khăn của việc xây dựng trung tâm logistics là mối liên kết giữa các doanh nghiệp logistics trong nước còn yếu. Ảnh: sưu tầm
Về việc phát triển trung tâm logistics, theo ông Bùi Hồng Minh, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, trung tâm logistics sẽ được xây dựng thành 3 nhóm: trung tâm hạng 1 ở cấp quốc gia và quốc tế, trung tâm hạng 2 ở cấp vùng, tiểu vùng và hành lang kinh tế và trung tâm chuyên dụng.

Tiêu chí của việc lựa chọn dựa vào dung lượng thị trường, khả năng đấu nối thuận tiện với các hệ thống giao thông vận tải, quan hệ chặt chẽ với các đối tác sản xuất, xuất nhập khẩu, lợi thế vị trí, phù hợp với quy hoạch phá triển cơ sở hạ tầng giao thông, kinh tế.

Ở khu vực phía Bắc, hiện đang có tỉnh Bắc Giang xin kế hoạch xây dựng trung tâm hạng 2, hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng cũng đã trình kế hoạch xây dựng trung tâm chuyên dụng.

Tuy nhiên, ông Bùi Hồng Minh cho biết, mặc dù đề xuất đã có nhưng phía Bộ Công Thương vẫn đang yêu cầu các địa phương làm rõ mô hình quản lý, đầu tư phù hợp, quy mô dự án, hướng lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ…

Nói về khó khăn trong việc phát triển và xây dựng trung tâm logistics, ông Đinh Hữu Thạnh, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn BeeLogistics cho hay, vốn đầu tư cho ngành logistics rất lớn, sẽ ít doanh nghiệp trong nước đáp ứng được yêu cầu khi đầu tư vào trung tâm hạng 1 hoặc hạng 2. Hơn nữa, việc xây dựng, quy hoạch nếu không qua phương án đầu thầu sẽ tạo ra thế độc quyền, thiếu tính an toàn và làm tăng chi phí logistics tại Việt Nam.

Đặc biệt, tại một số địa phương, hiểu biết thực sự về bản chất của lĩnh vực logistics còn nhiều hạn chế, thiếu hụt nguồn nhân lực được đào tạo bài bản về logistics và mối liên kết giữa các doanh nghiệp logistics trong nước còn yếu.

Vì thế, để những dự án phát triển trung tâm logistics đạt được hiệu quả, PGS.TS Trịnh Thị Thu Hương đề xuất, các địa phương cần minh bạch thông tin để doanh nghiệp có thể tiếp cận nhanh chóng và lên kế hoạch đầu tư.

Cũng về vấn đề này, TS. Nguyễn Thị Vân Hà, Khoa Vận tải- Kinh tế, Đại học Giao thông Vận tải cho rằng, các dự án cần phải lên kế hoạch tổng thể với những điều kiện liên quan đến lựa chọn địa điểm, mong muốn của doanh nghiệp cũng như các quy hoạch khác của địa phương, cần tránh việc quy hoạch chồng chéo, gây lãng phí cho xã hội.


Hải Quan Online.