Doanh
nghiệp xã hội được hưởng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp
luật.
Ngày 19 tháng 10 năm 2015,
Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 96/2015/NĐ-CP quy
định chi tiết một sốđiều
của Luật
Doanh nghiệp.

Nghị
định gồm 21 điều, quy định chi tiết thêm các điều liên quan
đến:
- Doanh
nghiệp xã hội (chính
sách phát triển đối với doanh nghiệp xã hội,
đăng
ký doanh nghiệp xã hội,
công
khai và
chấm dứt thực hiện Cam
kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của doanh nghiệp xã hội;
chuyển
cơ sở bảo trợ xã hội, quỹ xã hội và quỹ từ thiện thành doanh nghiệp xã
hội;
chia,
tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể đối với doanh nghiệp xã hội;
trách
nhiệm
của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên, cổ đông doanh nghiệp xã hội;
công
khai hoạt động của doanh nghiệp xã hội;
theo
dõi, giám sát hoạt động của doanh nghiệp xã hội…).

Doanh
nghiệp xã hội được hưởng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp
luật. Doanh
nghiệp xã hội được tiếp
nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài, tài
trợ bằng tài sản, tài chính hoặc hỗ trợ
kỹ thuật từ các cá nhân, cơ quan,
tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt Nam để
thực hiện mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường. Trường
hợp nhận ưu đãi, viện trợ, tài trợ, định kỳ hằng năm doanh nghiệp xã hội phải
gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc cơ quan quản lý viện trợ,
tài trợ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp xã hội có trụ sở chính
Báo cáo đánh giá tác động xã hội đối với các hoạt động doanh nghiệp đã thực hiện
chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Việc
đăng ký, đặt tên của doanh nghiệp xã hội thực hiện theo quy định hiện
hành.
Doanh
nghiệp xã hội phải thông báo Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi
trường (kể
cả khi có sự thay đổi nội dung) cho
cơ quan đăng ký kinh doanh để công khai trên Cổng
thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong
quá trình hoạt động. Trong
trường hợp chấm dứt Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của doanh
nghiệp xã hội, toàn bộ số dư tài sản hoặc tài chính còn lại của các khoản viện
trợ, tài trợ đã được nhận phải chuyển lại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã viện
trợ, tài trợ hoặc chuyển cho các doanh nghiệp xã hội khác, tổ chức khác có mục
tiêu xã hội tương tự. Doanh nghiệp xã hội chỉ được chấm dứt Cam kết thực hiện
mục tiêu xã hội, môi trường nếu vẫn bảo đảm
thanh toán đủ các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã xử lý số dư
của khoản viện trợ, tài trợ mà doanh nghiệp đã nhận.
Cơ
sở bảo trợ xã hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện được dùng toàn bộ tài sản, quyền và
nghĩa vụ để đăng ký doanh nghiệp xã hội sau khi có Quyết định cho phép chuyển
đổi thành doanh nghiệp xã hội bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy
phép thành lập cơ sở bảo trợ
xã hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện.
Hồ
sơ, trình tự, thủ tục chia, tách, hợp nhất, sáp nhập đối với doanh nghiệp xã hội
thực hiện theo quy định tương ứng của Luật Doanh
nghiệp. Trường
hợp giải thể doanh nghiệp xã hội, số dư tài sản hoặc tài chính còn lại đối với
nguồn tài sản, tài chính mà doanh nghiệp xã hội đã nhận phải được trả lại cho cá
nhân, cơ quan, tổ chức đã viện trợ,
tài trợ hoặc chuyển cho các doanh nghiệp xã hội khác, tổ chức khác có mục tiêu
xã hội tương tự.
Chủ
doanh nghiệp tư nhân, thành viên và cổ đông doanh nghiệp xã hội chỉ được chuyển
nhượng phần vốn góp, cổ phần của mình cho tổ chức, cá nhân khác nếu họ có cam
kết tiếp tục thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trường.
Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát đối với doanh nghiệp
xã hội có trụ sở chính
đặt tại tỉnh, thành phố mình. Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc cơ quan quản lý viện
trợ, tài trợ
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan đầu mối giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
trong việc theo dõi, giám sát đối với doanh nghiệp xã
hội.
- con
dấu doanh nghiệp (số
lượng, hình thức, nội dung mẫu con dấu của doanh nghiệp và chi
nhánh, văn phòng đại diện;
hình
ảnh, ngôn ngữ không được sử dụng trong nội dung mẫu con dấu;
quản
lý và sử dụng con dấu).
Chủ
doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng
thành viên đối
với công ty hợp danh, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty đối với công
ty trách
nhiệm hữu hạn, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần quyết định
số lượng, hình thức, nội dung và mẫu con dấu, việc quản lý
và sử dụng con dấu của
doanh nghiệp và chi nhánh, văn phòng đại diện (nếu có),
trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.Cơ
quan đăng ký kinh doanh không chịu trách nhiệm thẩm tra nội dung mẫu con dấu của
doanh nghiệp khi giải quyết thủ tục thông báo mẫu con dấu cho doanh
nghiệp.
Các
doanh nghiệp đã thành lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 tiếp tục sử dụng con
dấu đã được cấp cho doanh nghiệp mà không phải thực hiện thông báo mẫu con dấu
cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Nếu doanh
nghiệp đã thành lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 làm con dấu mới
thì phải
nộp lại con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu cho cơ quan công an nơi đã
cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu. Cơ quan công an cấp giấy biên nhận đã nhận
lại con dấu tại thời điểm tiếp nhận lại con dấu của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp có trách nhiệm thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh nơi
doanh nghiệp có trụ sở chính
để đăng tải công khai trên
Cổng thông tin quốc gia
về đăng ký doanh nghiệp trong các trường hợp i)
làm
con dấu lần đầu sau khi đăng ký doanh nghiệp; ii)
thay
đổi số lượng,
nội dung, hình thức mẫu con dấu và mầu mực dấu; iii)
hủy
mẫu con dấu.
- sở
hữu chéo giữa các công ty (việc
đồng thời hai doanh nghiệp có sở hữu phần vốn góp, cổ phần của nhau).
Cơ
quan đăng ký kinh doanh từ chối đăng ký thay đổi thành viên, cổ đông công ty nếu
trong quá trình thụ lý hồ sơ phát hiện việc góp vốn, mua cổ phần thành lập doanh
nghiệp hoặc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp liên quan vi phạm quy định tại
các Khoản 2 và 3 Điều 189 Luật Doanh nghiệp*. Các
công ty không có cổ phần, phần vốn góp nhà nước nắm giữ đã thực hiện góp vốn,
mua cổ phần
trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 có quyền mua bán, chuyển nhượng, tăng, giảm phần
vốn góp, số cổ phần
nhưng không được làm tăng tỷ lệ sở hữu chéo hiện có.
- Nguyên
tắc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp,
phối
hợp chia sẻ thông tin về hoạt động của doanh nghiệp
giữa các cơ quan, đơn vị.
Cán
bộ, công chức không được yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy
tờ, đặt ra thêm các thủ tục, điều kiện ngoài quy định và có hành vi gây khó
khăn, phiền hà đối với tổ chức, cá nhân trong tiếp nhận hồ sơ và giải quyết thủ
tục cho doanh nghiệp.
Mỗi
cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, cơ quan đại diện chủ sở
hữu chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp trong
phạm vi chức năng và nhiệm vụ được giao. các
cá nhân, tổ chức có liên quan được tạo
thuận lợi cho trong tiếp cận các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp được
lưu trữ tại cơ quan, đơn vị, trừ trường hợp phải bảo đảm bí mật theo quy định
pháp luật. Hoạt
động theo dõi, giám sát, thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước, cơ
quan đại diện chủ sở hữu không được gây ảnh hưởng
bất lợi hoặc cản trở hoạt
động bình thường của doanh nghiệp.
- Xây
dựng hệ thống quản lý
rủi ro về theo dõi và giám sát hoạt động của doanh nghiệp: Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh chủ động xây dựng cơ sở dữ
liệu về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, phương án, cách thức trao đổi
thông tin với cơ quan có liên quan và công khai thông tin; xây dựng hệ thống
quản lý rủi ro về theo dõi và giám sát hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi
chức năng quản lý nhà nước của mình. Định
kỳ hằng tháng, Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc cơ quan khác theo quyết định của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh làm đầu mối tổng hợp
tình hình hoạt động và chấp hành pháp luật của doanh nghiệp để báo cáo Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh; đồng thời gửi các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và
Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Nghị
định này thay thế Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2010 của
Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp và có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 08 tháng 12 năm 2015(Hồng
Liên).
----------------
* "2.
Công ty con không được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của công ty mẹ. Các công ty
con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu
chéo lẫn nhau.
3.
Các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn
nhà nước không được cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của
Luật này".
Nguồn
Thư Viện Pháp Luật
Xem
thêm --> Khuyến
mãi
Xem thêm --> bông phế
Xem thêm --> bông phế