Hiệp định này sẽ mở rộng và
làm rõ Hiệp định về Hàng rào Kĩ
thuật trong Thương mại được kí kết tại vòng đàm phán Tokyo. Hiệp định tìm cách
để đảm bảo rằng các kết quả đàm phàn và tiêu chuẩn kĩ thuật, cũng như là qui
trình kiểm tra và cấp giấy phép không tạo ra những rào cản không cần thiết đối
với thương mại. Tuy nhiên, Hiệp định công nhận rằng các nước có quyền thiết lập
các mức bảo vệ hợp lý cho cuộc sống, sức khỏe của con người, động thực vật và
môi trường, và không bị ngăn cản đưa ra các biện pháp cần thiết để áp dụng được
các mức bảo vệ đó. Chính vì vậy Hiệp định khuyến khích các nước sử dụng tiêu
chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện nước mình, nhưng nó không đòi hỏi các nước
thay đổi mức độ bảo vệ do sự tiêu chuẩn hóa này.
Đặc điểm tiến bộ của Hiệp định
được sửa đổi này còn thể hiện ở việc xem xét tới phương pháp sản xuất và chế
biến liên quan đến đặc tính của hàng hóa. Phạm vi của qui trình đánh giá sự phù
hợp được mở rộng và các nguyên tắc được chỉnh sửa chính xác hơn. Các điều khoản
thông báo áp dụng cho chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ được
nêu chi tiết hơn hiệp định của vòng đàm phán Tokyo. Qui tắc Thực hành đúng (Code
of Good Practice) để chuẩn bị, thông qua và áp dụng các tiêu chuẩn do cơ quan
tiêu chuẩn hóa đề ra được thông qua bởi các cơ quan, tổ chức của khu vực tư nhân
và khu vực công được quy định tại phụ lục của Hiệp định này.
Văn bản hiệp
đinh:
Download: Hiệp
định về các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại
Câu hỏi thường gặp:
Các rào cản kỹ thuật đối với
thương mại là gì?
Trong thương mại quốc tế, các “rào cản
kỹ thuật đối với thương mại” (technical barriers to trade) là các tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá
nhập khẩu và/hoặc quy
trình nhằm đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó (còn gọi là các biện pháp kỹ thuật – biện pháp
TBT).
Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên
tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khoẻ con
người, môi trường, an ninh... Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và
duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và
hàng hoá nhập khẩu.
Tuy nhiên, trên thực tế, các biện pháp
kỹ thuật có thể là những rào cản tiềm ẩn đối với thương mại quốc tế bởi chúng có
thể được nước nhập khẩu sử dụng để bảo hộ cho sản xuất trong nước, gây khó khăn
cho việc thâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu. Do đó
chúng còn được gọi là “rào cản kỹ thuật đối với thương
mại”.
Có những loại “rào cản kỹ
thuật” nào?
Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối
với thương mại của WTO phân biệt 03 loại biện pháp kỹ thuật sau
đây:
- Quy
chuẩn kỹ thuật (technical regulations) là những yêu cầu kỹ
thuật bắt
buộc áp dụng (các doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ).
- Tiêu
chuẩn kỹ thuật (technical standards) là các yêu cầu kỹ thuật được
chấp thuận bởi một tổ chức đã được công nhận nhưng không
có giá trị áp dụng bắt buộc; và
- Quy
trình đánh giá sự phù hợp của một loại hàng hoá với các quy
định/tiêu chuẩn kỹ thuật (conformity assessment procedure)
|
Hộp 1 - Các nội dung thường
được nêu trong quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật
- Các đặc tính của sản phẩm (bao gồm cả đặc tính về chất lượng);
hoặc
- Các quy trình và phương pháp sản xuất (PPMs) có ảnh hưởng/tác động
đến đặc tính của sản phẩm; hoặc
- Các thuật ngữ, ký hiệu; hoặc
- Các yêu cầu về đóng gói, ghi nhãn mác áp dụng cho sản
phẩm…
|
Mục tiêu của Hiệp định về các
Rào cản kỹ thuật đối với thương mại là gì?
Việc thông qua Hiệp định về các Rào cản
Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT – Agreement on Technical Barriers to
Trade) trong khuôn khổ WTO là nhằm thừa
nhận sự cần thiết của các biện pháp kỹ thuật đồng
thời kiểm
soát các biện pháp này sao cho chúng được các nước thành viên WTO
sử dụng đúng mục đích và không trở thành công cụ bảo hộ.
Hiệp định TBT đưa ra các nguyên
tắc và điều kiện mà các nước thành viên WTO phải tuân thủ khi ban
hành và áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hay các quy trình đánh giá
hợp chuẩn, hợp quy của hàng hoá.
Hộp 2 - Các loại hàng hoá thường là đối tượng của các biện pháp kỹ
thuật
Máy móc thiết bị
- Các công cụ lắp ráp và xây dựng chạy điện
- Các thiết bị chế biến gỗ và kim loại
- Thiết bị y tế
- Thiết bị chế biến thực phẩm
Các sản phẩm tiêu dùng
- Dược phẩm
- Mỹ phẩm
- Bột giặt tổng hợp
- Đồ điện gia dụng
- Đầu máy video và tivi
- Thiết bị điện ảnh và ảnh
- Ôtô
- Đồ chơi
- Một số sản phẩm thực phẩm
Nguyên liệu và các sản phẩm phục vụ nông nghiệp
- Phân bón
- Thuốc trừ sâu
- Các hoá chất độc
hại
|
Phân biệt các biện pháp kỹ
thuật và các biện pháp vệ sinh động thực vật như thế
nào?
Liên quan đến các yêu cầu về đặc tính
sản phẩm, quy trình sản xuất, đóng gói… bên cạnh các “biện pháp kỹ thuật” (TBT),
các nước còn duy trì nhóm các “biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật”
(SPS). Trên thực tế, có nhiều điểm giống nhau giữa hai nhóm biện pháp
này.
Tuy nhiên, WTO có quy định riêng cho
mỗi hai nhóm, tập trung ở hai Hiệp định khác nhau (với các nguyên tắc khác
nhau).
Tiêu
chí để phân biệt hai nhóm biện pháp này là mục
tiêu áp dụng của chúng:
- Các biện pháp SPS hướng tới mục tiêu cụ thể là bảo vệ cuộc sống, sức
khoẻ con người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm
và ngăn chặn các dịch bệnh;
- Các biện pháp TBT hướng tới nhiều mục tiêu chính sách khác nhau (an
ninh quốc gia, môi trường, cạnh tranh lành mạnh…).
Việc phân biệt khi nào một biện pháp là
TBT hay SPS là rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi mỗi loại biện pháp sẽ
chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc và quy định riêng của WTO; trên cơ sở đó,
doanh nghiệp biết bảo vệ quyền lợi của mình bằng phương pháp nào thì thích
hợp.
|
Hộp 3 - Phân biệt “biện pháp
TBT” và “biện pháp SPS”
Ví dụ 1: Các quy định về thuốc sâu
- Quy định về lượng thuốc sâu trong thực phẩm hoặc trong thức ăn gia
súc nhằm bảo vệ sức khoẻ con người hoặc động vật: Biện pháp
SPS;
- Quy định liên quan đến chất lượng, công năng của sản phẩm hoặc những
rủi ro về sức khoẻ có thể xảy ra với người sử dụng: Biện pháp
TBT.
Ví dụ 2: Các quy định về bao bì sản
phẩm
- Quy định về hun khử trùng hoặc các biện pháp xử lý khác đối với bao
bì sản phẩm (tẩy uế nhằm tránh lây lan dịch bệnh): Biện pháp
SPS;
- Quy định về kích thước, kiểu chữ in, các loại thông tin về thành
phần, loại hàng trên bao bì: Biện pháp
TBT
|
(Xem thêm Phần về các Biện pháp vệ sinh động thực
vật)
WTO quy định những nguyên tắc
gì về các biện pháp kỹ thuật?
Theo Hiệp định TBT, khi ban hành các
quy định về kỹ thuật đối với hàng hoá, mỗi nước thành viên WTO đều phải đảm bảo
rằng việc áp dụng các quy định này là:
- Không phân biệt đối xử;
- Tránh tạo ra rào cản không cần thiết đối với thương mại quốc tế (nếu
có thể dùng các biện pháp khác ít hạn chế thương mại hơn);
- Hài hoà hoá;
- Có tính đến các tiêu chuẩn quốc tế chung;
- Đảm bảo nguyên tắc tương đương và công nhận lẫn nhau (với các nước
khác);
- Minh bạch;
Đây là những công cụ quan trọng mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để bước đầu nhận biết một biện pháp kỹ thuật có tuân
thủ WTO hay không để từ đó có biện pháp khiếu nại, khiếu kiện hợp lý nhằm bảo vệ
lợi ích chính đáng của mình.
Nước nhập khẩu có thể áp dụng
các biện pháp TBT riêng đối với hàng xuất khẩu từ Việt Nam hay
không?
Theo nguyên
tắc không phân biệt đối xử được ghi nhận trong Hiệp định TBT thì
nước nhập khẩu là thành viên WTO có nghĩa vụ:
- Không đặt ra các biện pháp kỹ thuật khác nhau cho hàng hoá tương tự
đến từ các nước thành viên khác nhau của WTO (nguyên tắc tối huệ
quốc);
- Không đặt ra các biện pháp kỹ thuật cho hàng hoá nước ngoài cao hơn
biện pháp kỹ thuật áp dụng cho hàng hoá tương tự nội địa của mình (nguyên tắc
đối xử quốc gia).
Như vậy, về cơ bản, một nước không được
đặt ra các biện pháp kỹ thuật khác nhau cho hàng hoá tương tự nhau. Điều này có
nghĩa hàng hoá Việt Nam khi xuất khẩu sang một nước thành viên WTO sẽ chỉ phải
tuân thủ các biện pháp kỹ thuật áp dụng cho hàng hoá tương tự trong nội địa nước
đó và hàng hoá tương tự nhập khẩu từ tất cả các nguồn khác.
Ngược lại, Việt Nam cũng không thể ban
hành và áp dụng các biện pháp kỹ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu ở mức cao hơn
hoặc thấp hơn mức áp dụng cho hàng hoá nội địa.
Hộp 4 - Ví dụ về nguyên tắc không phân biệt đối xử về các biện pháp
kỹ thuật
Giả sử Hoa Kỳ chế biến và sản xuất thịt
gà và đồng thời cũng nhập khẩu thịt gà chế biến từ Việt Nam và Thái Lan (ba nước
đều là thành viên WTO). Nếu thịt gà chế biến nói đến ở đây là loại hàng tương tự
nhau (cùng lấy từ lườn gà, cùng được sơ chế và để đông lạnh…..), theo nguyên tắc
không phân biệt đối xử, Hoa Kỳ phải:
- Áp dụng cùng một mức thuế nhập khẩu và các quy định về nhãn mác,
đóng gói, yêu cầu về chất lượng…cho thịt gà nhập từ Việt Nam và Thái
Lan;
- Không áp dụng các loại thuế nội địa thấp hơn và biện pháp kỹ thuật
ưu đãi hơn cho thịt gà chế biến trong nội địa Hoa Kỳ so với thịt gà nhập khẩu từ
Việt Nam và Thái Lan.
|
Làm thế nào để doanh nghiệp
biết một biện pháp kỹ thuật “gây ra cản trở không cần thiết đối với thương
mại”?
Theo Hiệp định TBT, các biện pháp kỹ
thuật mà mỗi nước thành viên WTO áp dụng không
được gây ra cản trở không cần thiết đối với thương mại.
Nguyên tắc này được hiểu theo cách thức
khác nhau tuỳ thuộc vào loại biện pháp kỹ thuật được áp dụng. Cụ
thể:
- Đối với các quy chuẩn kỹ thuật (bắt
buộc):
Một quy chuẩn kỹ thuật “không gây ra
cản trở không cần thiết đối với thương mại” được hiểu là:
- Nhằm thực hiện một mục
tiêu hợp pháp;
- Không thắt chặt hoạt động thương mại ở trên mức
cần thiết để đảm bảo thực hiện mục tiêu chính sách.
- Đối với các tiêu chuẩn kỹ thuật (không bắt
buộc):
Không có quy định rõ ràng để xác định
khi nào một tiêu chuẩn kỹ thuật “không gây ra cản trở không cần thiết đối với
thương mại”. Tuy nhiên, hiện đang có xu hướng hiểu các điều kiện này tương
tự như cách hiểu trong trường hợp các quy chuẩn kỹ thuật nói
trên.
- Đối với quy trình đánh giá sự phù hợp
Một quy trình đánh giá hàng hóa được
xem là “không
gây ra cản trở không cần thiết đối với thương mại” khi nó không chặt chẽ
hơn mức cần thiết đủ để nước nhập khẩu có thể tin tưởng rằng sản phẩm liên quan
phù hợp với các quy chuẩn hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định.
|
Hộp 5 - Khi nào một biện pháp kỹ thuật
được coi là phục vụ một “mục tiêu hợp pháp”?
Hiệp định TBT liệt kê một số ví dụ về
các mục tiêu hợp pháp có thể chấp nhận được, bao gồm:
- Các yêu cầu vì an ninh quốc phòng;
- Ngăn chặn hành vi lừa đảo;
- Bảo vệ sức khoẻ và tính mạng con người;
- Bảo vệ sức khỏe và an toàn động vật;
- Bảo vệ môi trường; và
- Các mục tiêu khác (ví dụ mục tiêu tiêu chuẩn hoá các sản phẩm điện –
điện tử, tiêu chuẩn chất lượng…)
|
Hộp 6 - Khi nào một biện pháp kỹ thuật được xem là “ở mức cần
thiết”?
- Một biện pháp kỹ thuật được xem là “ở mức cần thiết” để bảo vệ các
mục tiêu chính đáng nếu không còn bất kỳ một biện pháp nào khác cho phép đạt
được mục tiêu đó mà lại ít cản trở thương mại hơn và không vi phạm hoặc vi phạm
ít hơn các quy định của WTO (Vụ
Thái Lan – Các biện pháp hạn chế nhập khẩu và Thuế nội địa đối với Thuốc lá
điếu);
- Những biện pháp kỹ thuật được xây dựng dựa trên hoặc tuân
thủ các
tiêu chuẩn quốc tế được mặc nhiên xem là đáp ứng điều kiện “không
gây cản trở không cần thiết đến thương
mại”.
|
Việc xác định một biện pháp kỹ thuật có
gây ra “cản trở không cần thiết đến thương mại” hay không là rất phức tạp và cần
sự hỗ trợ của các chuyên gia. Tuy nhiên, đây lại là điều có ý nghĩa quan trọng
với doanh nghiệp bởi nếu
chứng minh được một yêu cầu kỹ thuật không đáp ứng được nguyên tắc này của WTO,
doanh nghiệp có thể sẽ không phải tuân thủ các yêu cầu đó (nước áp
dụng phải loại bỏ chúng theo các quy định của WTO).
Vì vậy nếu doanh nghiệp có được các
thông tin liên quan, ví dụ biết rằng có biện pháp khác ít cản trở hơn mà vẫn đảm
bảo mục tiêu kiểm soát như biện pháp kỹ thuật đang áp dụng, doanh nghiệp có thể
khiếu nại trực tiếp với cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu hoặc thông báo cho
Chính phủ nước mình để có cách xử lý thích hợp, bảo vệ lợi ích của doanh
nghiệp.
Các biện pháp kỹ thuật có phải
tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế liên quan không?
Theo Hiệp định TBT, đối với
các quy
chuẩn kỹ thuật (technical regulations), nếu đã có những
tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế chung liên quan thì các nước thành viên
WTO phải
áp dụng các
tiêu chuẩn quốc tế đó để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật nội địa của
mình. Quy định này tạo ra một sự thống nhất tương đối về quy chuẩn kỹ thuật đối
với hàng hoá ở các nước khác nhau, vì thế tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
xuất khẩu (ví dụ khi doanh nghiệp xuất cùng một mặt hàng đi nhiều
nước).
Tuy nhiên, một nước có
thể không sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế chung nếu các tiêu chuẩn
này không hiệu quả và không thích hợp để đạt được mục tiêu quốc gia của mình (có
thể vì lý do địa lý, khí hậu, công nghệ…). Trong trường hợp này, nếu quy chuẩn
kỹ thuật dự kiến áp dụng có ảnh hưởng rõ rệt đến thương mại (so với các tiêu
chuẩn quốc tế liên quan), nước thành viên có nghĩa vụ:
- Công bố dự thảo các quy chuẩn kỹ thuật;
- Tạo cơ hội để các chủ thể liên quan được bình luận về dự thảo
đó;
- Cân nhắc các ý kiến bình luận trong quá trình hoàn thiện và thông
qua các quy chuẩn kỹ thuật chính thức.
|
Hộp 7 - Các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế
thông dụng hiện nay do các tổ chức nào ban hành?
- Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO);
- Uỷ ban Kỹ thuật Điện tử quốc tế (IEC);
- Liên đoàn viễn thông quốc tế (ITU);
- Uỷ ban dinh dưỡng
CODEX
|
Tại sao WTO không tạo ra những
biện pháp kỹ thuật thống nhất chung cho hàng hoá của tất cả các nước thành
viên?
Các biện pháp kỹ thuật thể hiện
những mục
tiêu khác nhau của mỗi nước (bảo vệ lợi ích công cộng, cam kết xã hội, thúc
đẩy thương mại…) và cũng phản ánh những đặc
trưng khác nhau của mỗi nước (đặc biệt về điều kiện địa lý, trình độ phát
triển, nhu cầu thương mại và tài chính…). Vì thế, cho đến nay các nước thành
viên WTO chưa thể thống nhất về một bộ các biện pháp kỹ thuật chung cho bất kỳ
loại hàng hoá nào.
Cũng vì lý do này mà Hiệp
định TBT không
phải là tập hợp các biện pháp kỹ thuật áp dụng trực tiếp, bắt buộc chung ở tất
cả các nước thành viên cho từng loại hàng hoá mà chỉ đưa ra các nguyên tắc
chung mà các nước phải tuân thủ khi thông qua và thực thi các biện pháp kỹ thuật
đối với hàng hoá.
Tuy nhiên, Hiệp định TBT cũng nhấn mạnh
yêu cầu “hài
hòa hoá” các biện pháp kỹ thuật giữa các nước theo hướng:
- Khuyến khích các nước thành viên tham gia vào quá trình hài hoà hoá
các tiêu chuẩn và sử dụng các tiêu chuẩn đã được chấp thuận chung làm cơ sở cho
các biện pháp kỹ thuật nội địa của mình;
- Khuyến khích các nước nhập khẩu thừa nhận kết quả kiểm định sự phù
hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng tại nước xuất
khẩu.
Việc hài hoà hoá các biện pháp kỹ thuật
này được WTO khuyến khích bởi nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông
hàng hoá của doanh nghiệp và người sản xuất; người tiêu dùng cũng được lợi từ sự
thống nhất này.
Làm thế nào để tiếp cận thông
tin về các biện pháp kỹ thuật của các nước?
Hiệp định TBT quy định mỗi nước đều
phải minh bạch hoá hệ thống các biện pháp kỹ thuật áp dụng cho hàng hoá của mình
thông qua các hình thức khác nhau.
Đặc biệt, Hiệp định buộc mỗi nước thành
viên phải thiết lập một “Điểm
hỏi đáp về TBT” để trả lời và cung cấp các văn bản có liên quan
đến các biện pháp kỹ thuật cho các nước thành viên và các đối tượng liên quan
(trong đó có doanh nghiệp).
Như vậy, nếu quan tâm đến các quy định
về các biện pháp kỹ thuật áp dụng tại từng thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp
hoàn toàn có thể tiếp cận và có được các thông tin này tại các “Điểm hỏi đáp
TBT”.
Danh mục địa chỉ các Điểm hỏi đáp của
tất cả các thành viên WTO có thể tìm thấy tại trang web của WTO (www.wto.org)
theo đường dẫn: Home > Trade topics > Goods > Technical barriers to
Trade > National enquiry points.
Doanh nghiệp Việt Nam phải đối
phó với các biện pháp kỹ thuật của các nước nhập khẩu như thế
nào?
Đa số các biện pháp kỹ thuật ở các thị
trường nhập khẩu được áp dụng một cách ổn định, thường xuyên và liên tục (không
phải biện pháp bất thường và cũng không mang tính trừng phạt). Hàng hoá nhập
khẩu từ tất cả các nguồn đều phải đáp ứng các yêu cầu này. Vì vậy, về nguyên
tắc, đối với doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu, không có biện pháp phòng tránh
hay đối phó mà chỉ có biện pháp duy nhất là tuân
thủ.
Việc tuân thủ các biện pháp này đôi khi
đòi hỏi những thay đổi quan trọng không chỉ đối với hàng hoá thành phẩm xuất
khẩu mà cả quá
trình nuôi trồng, khai thác nguồn nguyên liệu đến quy
trình chế biến, đóng gói, vận chuyển sản phẩm.
Đây là việc khó nhưng phải làm bởi nếu
không đáp ứng các điều kiện kỹ thuật, hàng hoá “lỗi” có thể bị từ chối nhập
khẩu. Nghiêm trọng hơn, trong một số trường hợp, nếu việc vi phạm xuất hiện quá
nhiều và khó kiểm soát, nước nhập khẩu có thể tăng cường các biện pháp kiểm soát
hoặc thậm chí cấm nhập khẩu hàng hoá tương tự từ tất cả các doanh nghiệp của
nước xuất khẩu liên quan (dù một số doanh nghiệp không vi
phạm).
Khi Việt Nam đã là thành viên
WTO, có thay đổi gì đặc biệt trong vấn đề rào cản kỹ thuật
không?
Ở thị trường trong nước, khi chưa gia
nhập WTO Việt Nam cũng đã có các quy định thuộc nhóm “biện pháp kỹ thuật” (ví dụ
Luật về tiêu chuẩn, Nghị định về ghi nhãn hàng hoá, Luật bảo vệ môi trường…).
Khi Việt Nam gia nhập WTO, các quy định này tiếp tục được áp dụng. Điểm mới duy
nhất là từ nay, việc ban hành hay áp dụng các biện pháp kỹ thuật tại Việt Nam bị
ràng buộc bởi các nguyên tắc liên quan của WTO.
Tại các thị trường xuất khẩu, dù Việt
Nam chưa hay đã là thành viên WTO thì hàng hoá Việt Nam khi xuất khẩu vẫn phải
tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về kỹ thuật mà nước nhập khẩu đặt ra. Tuy nhiên, khi
Việt Nam đã có quy chế thành viên WTO, các doanh nghiệp Việt Nam có thêm các cơ
hội để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trong trường hợp các quy định liên
quan của nước nhập khẩu vi phạm các nguyên tắc của WTO thông qua
việc đề
nghị Chính phủ can thiệp qua cơ chế giải quyết tranh chấp tại
WTO.
|
Hộp 8 - Địa chỉ tìm kiếm thông tin về
các biện pháp kỹ thuật đối với hàng hoá ở Việt Nam
Doanh nghiệp có thể tiếp cận
các thông tin về tất cả các biện pháp kỹ thuật của Việt Nam
tại:
- Văn phòng TBT Việt Nam, Tổng Cục Tiêu chuẩn – Đo lường -
Chất lượng, Bộ Khoa học Công nghệ
http://thutuchaiquanvietnam.blogspot.com/2015/11/hiep-dinh-ve-cac-hang-rao-ky-thuat.html
- Các Điểm TBTtrong mạng lưới TBT tại các Bộ liên quan (Bộ
Khoa học và Công nghệ; Bộ Công thương; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Thông tin -
Truyền Thông; Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch; Bộ Tài Nguyên Môi trường; Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn; Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; Bộ Y
tế);
- Các Điểm TBT trong mạng lưới TBT tại các Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường
Chất lượng địa phương (64 tỉnh, thành).
|