Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin-tong-hop-det-may. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin-tong-hop-det-may. Hiển thị tất cả bài đăng

Việt Nam khởi động dự án khai thác khí trị giá 8 tỷ USD

Ngày 3/4, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tham dự và nhấn nút khởi động chuỗi dự án lô B - Ô Môn do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) làm chủ đầu tư.

Theo Tổng giám đốc Petro Vietnam Nguyễn Vũ Trường Sơn, mục tiêu của chuỗi dự án là nhằm khai thác và thu gom nguồn khí với tổng trữ lượng thu hồi dự kiến 3,78 tỷ bộ khối, tương đương 107 tỷ m3 và 12,65 triệu thùng condensate, sản lượng khí đưa về bờ khoảng 5,06 tỷ m3/năm và kéo dài 20 năm (từ 2020 - 2040), để cấp khí cho các nhà máy điện tại khu vực Kiên Giang và Ô Môn, nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng điện cho khu vực Nam Bộ trong giai đoạn sau 2020 nói chung và khu vực Tây Nam Bộ nói riêng.

Chuỗi dự án bao gồm các dự án thành phần: dự án phát triển mỏ lô B, 48/95 và 52/97; và dự án đường ống dẫn khí lô B - Ô Môn. Dự án phát triển mỏ lô B có tổng chi phí đầu tư trong 20 năm là 6,8 tỷ USD.

Trong dự án này, Petro Vietnam góp 42, 896% vốn; PVEP nắm 26,788%; MOECO (Nhật) 22.575%; PTTEP (Thái Lan) là 7,741%, do Phú Quốc POC - chi nhánh Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm nhà điều hành.

Công trình đưa vào vận hành từ quý 2/2020; gồm các hạng mục công nghệ và thiết bị chính: 1 giàn công nghệ trung tâm và 46 giàn khai thác; 1 giàn nhà ở; 1 tầu chứa condensate; khoảng 750 giếng khai thác.

Cùng với đó là dự án đường ống dẫn khí lô B - Ô Môn với tổng mức đầu tư 1,2 tỷ USD; chủ đầu tư là hợp doanh, bao gồm: Petro Vietnam, PVGas, nhà thầu MOECO và PTTEP.

Theo kế hoạch, công trình đưa vào vận hành từ quý 2/2020; Tổng chiều dài tuyến ống là 431 km, có công suất thiết kế 20,3 triệu m3, trong đó tuyến ống biển có chiều dài khoảng 295 km.

Ước tính sơ bộ trong vòng 20 năm hoạt động, các nguồn thu từ dự án như sau: dự án thượng nguồn dự kiến nộp ngân sách khoảng 18,3 tỷ USD; dự án đường ống dự kiến nộp ngân sách khoảng 930 triệu USD (thuế thu nhập doanh nghiệp khoảng 330 triệu USD, thuế VAT khoảng 600 triệu USD).

Ngoài ra, dự án còn đóng góp cho ngân sách nguồn thu từ thuế nhập khẩu khoảng 400 tỷ đồng trong quá trình xây dựng.

Nguồn Thời Báo Kinh Tế Việt Nam

Xem thêm --> bông sợi, sợi dệt vớ, sợi cotton, sợi chải thô, bông ấn độ, bông nhập khẩu

Đầu tư chuỗi cung ứng khép kín: Tăng lợi thế kinh doanh

Nhiều doanh nghiệp (DN) đang tích cực đầu tư vào chuỗi cung ứng để tìm lợi thế kinh doanh tại thị trường Việt Nam cũng như xuất khẩu.

Xem thêm --> Biểu thuế của các nước trong TPP, cước vận chuyển đường biển, thị trường bông sợi

Tăng tốc cho chuỗi cung ứng
Theo đánh giá của Hiệp hội Doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham), năm 2015, tổng kim ngạch thương mại giữa Mỹ và Việt Nam tăng trưởng khoảng 20%, đạt 45 tỷ USD, kỳ vọng đạt 80 tỷ USD vào năm 2020 và có thể cao hơn khi thực thi TPP và các DN Việt Nam chủ động khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ngành dệt may, da giày được đánh giá có nhiều lợi thế do mức thuế suất giảm về 0% thay vì từ 12 đến 17% như hiện nay. Nhưng theo Hiệp hội Dệt May Việt Nam (Vitas), cả nước có khoảng 4.000 DN dệt may, trong đó DN may chiếm 70%, dệt 17%, kéo sợi 6% và nhuộm 4%, phụ trợ chỉ có 3%, cho thấy nếu ngành DN dệt may không nỗ lực đầu tư cho chuỗi khép kín thì sẽ không có cơ hội được hưởng quyền lợi do TPP mang lại.

Ông Phạm Xuân Trình, Tổng giám đốc Tổng công ty CP Phong Phú, cho biết: "Để được hưởng lợi về thuế, DN dệt may Việt Nam phải đáp ứng được sản phẩm xuất xứ từ sợi trở đi.

Vì vậy, năm 2016, Phong Phú tiếp tục gia tăng chuỗi cung ứng khép kín từ sợi - dệt - nhuộm - may và mở rộng năng lực sản xuất sợi chỉ may, sản xuất vải denim và dệt kim; tiếp tục áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để rút ngắn quy trình, giảm chi phí lao động và tiêu hao nguyên vật liệu, giảm lỗi và hỏng sản phẩm.

Dự kiến, tháng 12/2016, dây chuyền sản xuất vải denim công nghệ dệt đa màu sắc sẽ cung ứng cho thị trường nội địa và xuất khẩu. Từ năm 2016 - 2018, Phong Phú sẽ đầu tư thêm từ 400 - 600 tỷ đồng cho sợi, may là 600 - 800 tỷ và khăn là 600 tỷ đồng".

Minh chứng hiệu quả của việc đầu tư chuỗi cung ứng, ông Trình cho biết thêm: "Năm 2015, khi Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ, giá dầu sụt giảm và kinh tế thế giới giảm tốc nhưng nhờ có chuỗi cung ứng linh hoạt với các nhà máy sản xuất sợi polyester, sợi cotton và sợi dệt kim nên Phong Phú không bị ảnh hưởng.

Khi đã có thị trường tốt, Phong Phú đẩy mạnh xuất khẩu sợi (do có một số thị trường thuế thấp nên Phong Phú xuất khẩu sợi rồi nhập sợi từ nước khác về phục vụ sản xuất trong nước). Khi xuất khẩu sợi gặp khó khăn thì chúng tôi đưa toàn bộ sợi xuất khẩu vào sản xuất vải, khăn bông bán trong nước".

Mới đây, Công ty CP Nhựa Rạng Đông đã hợp tác với Công ty Sojitz Pla-Net (Nhật Bản) để phát triển sản phẩm mới. Bên cạnh đó, để đầu tư cho chuỗi cung ứng, Rạng Đông đang xây dựng một nhà máy nhựa 87.000m2 tại Long An với vốn đầu tư 23 triệu USD, dự kiến sẽ hoạt động trong tháng 12/2016.

Theo đại diện của Công ty CP Nhựa Rạng Đông, hiện 85% sản phẩm của Rạng Đông tiêu thụ trong nước và 15% xuất khẩu. Sắp tới, với sự hỗ trợ của Sojitz Pla-Net vốn có lợi thế về phân phối và công nghệ, Rạng Đông sẽ đẩy mạnh xuất khẩu đồ nhựa sang Nhật Bản và một số nước khác, đặc biệt là bao bì đựng thực phẩm.

Sojitz Pla-Net hiện đã có 27 cơ sở sản xuất tại 17 quốc gia với doanh thu gần 3 tỷ USD, có khả năng cung ứng ra thị trường 1 triệu tấn nguyên liệu nhựa mỗi năm.

Cùng nắm bắt lợi thế sân nhà, đầu năm 2016, Công ty CP Công nghiệp hỗ trợ Minh Nguyên đã đầu tư 71 triệu USD (tương đương 1.600 tỷ đồng), xây dựng khu nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất công nghệ cao Phước Thành, tập trung vào lĩnh vực sản xuất nhựa, linh kiện điện tử bằng nhựa, kim loại, chế tạo khuôn mẫu ngành nhựa, dập kim loại, sản xuất công nghệ xi mạ chân không... cung ứng trực tiếp cho khu phức hợp Samsung.

Có thể nói đến bây giờ, Minh Nguyên vẫn là một trong số rất ít DN được Samsung chọn vào chuỗi cung ứng trực tiếp. Bởi theo Samsung, việc tìm kiếm các nhà cung cấp 100% vốn trong nước là rất khó khăn vì một phần Việt Nam chưa có ngành công nghiệp sản xuất điện thoại di động, và hầu hết các DN phụ trợ không đáp ứng được các yêu cầu của Hãng đưa ra.

Ông Chang Bok Sang, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn CJ tại Việt Nam, cũng cho biết, trong số 60 triệu USD nhập khẩu ớt, đã có một nửa được cung ứng từ Việt Nam do Công ty đầu tư mở trang trại trồng ớt ở Ninh Thuận để chủ động nguyên liệu cho công ty con của Tập đoàn.

Cũng đầu tháng 1/2016, Tập đoàn Avery Dennison chuyên cung ứng tem, nhãn mác, bao bì, phụ liệu trang trí cũng đã đầu tư 40 triệu USD xây dựng một nhà máy tại Long An.

Sở dĩ Avery đầu tư mạnh vào Việt Nam vì ngành công nghiệp phụ trợ đang có rất nhiều cơ hội, nhất là hiện nay năng lực sản xuất, xuất khẩu của ngành dệt may, da giày đang phát triển.

Vẫn còn khó
Mặc dù xác định đầu tư cho chuỗi cung ứng sẽ tạo ra nhiều lợi thế nhưng theo ông Trịnh Chí Cường, Tổng giám đốc Công ty CP Nhựa Đại Đồng Tiến: "Điều khó nhất mà chúng ta vấp phải không phải vấn đề kỹ thuật mà là chưa tìm được đường gia nhập chuỗi cung ứng. Thông thường, các DN muốn tham gia chuỗi phải được chính nhà đầu tư chỉ định hoặc được cơ quan có uy tín giới thiệu.

DN cung ứng phải trải qua quá trình đàm phán, tìm hiểu rất kỹ của đối tác. DN Việt Nam hoàn toàn có đủ khả năng để tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm, nhưng đầu ra còn rất ít. Đơn cử, đã có một DN sản xuất xe hơi trong nước đề nghị Đại Đồng Tiến cung ứng một số linh kiện nhựa nhưng sản lượng lại quá thấp so với công suất đầu tư nên không hiệu quả”.

Ông Ngô Trung Kiên, Chủ tịch HĐQT Công ty CP May Sài Gòn 2, cho rằng, Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng rất bị động, chỉ tập trung vào những phần dễ làm, có thế mạnh chứ chưa hướng đến nhu cầu và sự thiếu hụt nguyên liệu cho sản xuất để tìm cách tự đáp ứng thay vì trông chờ vào nhập khẩu.

Đơn cử, tại May Sài Gòn 2, mỗi năm phải nhập khẩu tới 70% vải nguyên liệu, trong nước chỉ cung cấp được 30% còn lại. Các phụ liệu đơn giản như dây kéo, nút áo, chỉ thì không thiếu, nhưng những phụ kiện cao cấp, cầu kỳ vẫn phải nhập.

Tuy nhiên, theo ông Kiên, để xây dựng một nhà máy sợi, dệt cần từ 3 - 5 năm, vốn đầu tư khoảng 500 tỷ đồng. Với nguồn vốn hạn chế, làm cách nào để DN Việt Nam giải bài toán nan giải này? Một chuyên gia tâm huyết với ngành công nghiệp phụ trợ cho rằng, DN phải có tiềm lực lớn về tài chính, đơn cử như tham gia chuỗi sản xuất cho Samsung thì cần ít nhất từ 5 - 10 triệu USD.

Ngoài việc đáp ứng về công nghệ, giá cả, thời gian giao hàng, còn có những yêu cầu khác như không bóc lột sức lao động, không trả lương công nhân thấp...

Và một trong những chính sách mà Nhà nước cần hỗ trợ DN là tín dụng. Lãi suất vay hiện nay của Việt Nam vẫn gấp đôi mức 5% của Thái Lan. Mới đây, Chính phủ quyết định hỗ trợ DN nhỏ và vừa khoảng 3.000 tỷ đồng đến năm 2020 cùng các chính sách miễn, giảm thuế có thể phần nào giúp các DN tham gia công nghiệp phụ trợ.

Nguồn: Doanh Nhân Sài Gòn




THÚC ĐẨY SẢN XUẤT BỀN VỮNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

THÚC ĐẨY SẢN XUẤT BỀN VỮNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

IFC, thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới hiện đang hợp tác với Tập đoàn may mặc và giày dép hàng đầu thế giới (VF) và Tập đoàn Target, nhà bán lẻ các sản phẩm tiêu dùng nổi tiếng của Mỹ giúp cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên tại các nhà máy cung ứng của họ ở Việt Nam.
Thúc đẩy sản xuất bền vững ngành dệt may Việt Nam
Trong giai đoạn đầu triển khai, chương trình sẽ tiến hành đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng và nước tại khoảng 30 nhà máy trong vòng 12 tháng tới để giúp các nhà máy giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng suất, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và chống biến đổi khí hậu của Việt Nam.


Ngành dệt may, may mặc và giày dép là ngành có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế của Việt Nam. Trong năm 2015, kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt trên 39 tỷ USD và tạo ra khoảng 3 triệu việc làm, trong đó hầu hết là dành cho nữ giới.

Dệt may cũng là ngành sử dụng nhiều năng lượng và nước và có tiềm năng giảm 20% hoặc nhiều hơn nữa lượng tài nguyên tiêu thụ thông qua việc áp dụng những công nghệ mới nhất và những thực hành tốt nhất về sử dụng tài nguyên.

Ông Kyle Kelhofer, Giám đốc Quốc gia của IFC tại Việt Nam, Campuchia và Lào nhận định: "Với sự tham gia ngày càng nhiều của Việt Nam vào các hiệp định thương mại khu vực và toàn cầu, như Hiệp định và FTAs Việt Nam - EU, ngành dệt may của Việt Nam đang chờ đón một sự tăng trưởng nhanh hơn đi cùng với những đòi hỏi ngày càng cao về việc sử dụng năng lượng và nước một cách bền vững".

Vị này cho biết: "Các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam tham gia chương trình này của IFC sẽ được hưởng lợi thông qua việc tiếp cận tốt hơn với các thị trường toàn cầu khi áp dụng các thực hành tốt nhất về hiệu quả tài nguyên”.

Các đánh giá tại các nhà máy cung ứng của Công ty VF và Công ty Target trên toàn bộ chuỗi giá trị dệt may, bao gồm các công đoạn cắt may, nhuộm, in và giặt sẽ giúp xác định và xây dựng các giải pháp hiệu quả kinh tế để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và nước, đồng thời cũng giúp các nhà cung ứng cải thiện năng suất và tăng khả năng cạnh tranh.

Bên cạnh việc tư vấn các giải pháp kỹ thuật, IFC cũng sẽ giúp kết nối các nhà cung ứng với các nguồn tài chính thông qua các ngân hàng đối tác của IFC tại Việt Nam, dựa trên bề dày kinh nghiệm của IFC ở các nước xuất khẩu dệt may hàng đầu trên thế giới khác như Bangladesh và Trung Quốc.

"Việc hợp tác với IFC tại Việt Nam sẽ giúp Tập đoàn Target thực hiện chiến lược về tìm nguồn cung ứng có trách nhiệm và đạt được mục tiêu về phát triển bền vững – đó là làm cho các nhà máy sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn và thân thiện hơn với môi trường" - bà Ivanka Mamic, Giám đốc Bộ phận thu mua có trách nhiệm của Công ty Dịch vụ Thu mua Target thuộc Tập đoàn Target cho biết.

Trong khi đó, theo ông Brad van Voorhees, Giám đốc cao cấp về chuỗi cung ứng bền vững tại VF Asia, thuộc Tập đoàn VF, Tập đoàn này có truyền thống tạo ra những sản phẩm xuất sắc dựa trên sự tôn trọng con người và môi trường. “Chúng tôi liên tục tìm kiếm các cơ hội để mở rộng hơn nữa các cam kết trên toàn bộ các cơ sở cung ứng trên toàn cầu của chúng tôi để đạt được các tác động lớn hơn" - ông Brad van Voorhees nói.

Sáng kiến về sản xuất bền vững này sẽ giúp thúc đẩy sử dụng hiệu quả tài nguyên bằng cách đánh giá một cách hệ thống các cơ hội cải thiện hiệu suất, tiến hành nghiên cứu đối chuẩn, chia sẻ thực hành công nghệ tốt nhất và nâng cao nhận thức ở cấp ngành để nhân rộng mô hình. Trong giai đoạn tiếp theo, chương trình sẽ đánh giá các cơ hội cho việc sử dụng năng lượng sạch để đáp ứng nhu cầu năng lượng của chuỗi cung ứng dệt may.

Sáng kiến này là một phần trong chương trình nhiều năm về nâng cao hiệu quả tài nguyên của IFC tại Việt Nam. Chương trình đang triển khai thực hiện các cách tiếp cận tổng hợp sáng tạo để tăng quy mô tác động thông qua việc tham gia cùng với các thương hiệu toàn cầu hàng đầu và chuỗi cung ứng của họ. Chương trình cũng tiến hành các can thiệp vào một số khu công nghiệp được lựa chọn để thúc đẩy khái niệm về kinh tế tuần hoàn giữa các ngành công nghiệp ở trong cùng khu công nghiệp.

Nguồn: Thời báo Ngân hàng
Xem thêm --> Cước vận tải đường biển, trang sức bạc, công ty giao nhận vận chuyển

Dệt may và TPP, nỗi lo còn dài

Với TPP, xuất khẩu của ngành dệt may được kỳ vọng tăng mạnh nhất, khi 184/186 sản phẩm dệt may không bị áp dụng nguyên tắc “từ sợi trở đi” (Yarn - forward origin rule). Nhưng điều đáng tiếc là 184 sản phẩm này chỉ chiếm 15% thị phần trong thị trường TPP, 85% thị phần nằm trong hai sản phẩm còn lại, như Bộ trưởng Bộ Công Thương vừa nói trước Quốc hội.
Với TPP, xuất khẩu của ngành dệt may được kỳ vọng tăng mạnh nhất, khi 184/186 sản phẩm dệt may không bị áp dụng nguyên tắc “từ sợi trở đi”
Nỗi lo TPP.
Chưa kể, ngành này lâu nay phát triển nhờ gia công xuất khẩu và phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, trong đó doanh nghiệp FDI chiếm đến 60-72% kim ngạch xuất khẩu dù chỉ chiếm 25% tổng số doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam. Cho nên, dù xuất khẩu có tăng trưởng thì dòng tiền sẽ chảy vào túi các doanh nghiệp nước ngoài nhiều hơn thay vì các doanh nghiệp Việt Nam.

Thời gian qua, tuy tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã triển khai nhiều dự án, chủ yếu vào ngành may, để chuẩn bị cho TPP nhưng Trung Quốc và một số quốc gia khác còn đổ tiền đầu tư lớn hơn, kể cả việc xây khu công nghiệp dệt may (tại Nam Định).

Các doanh nghiệp may của chúng ta hiện gần như chỉ tập trung gia công sản phẩm - công đoạn dù sử dụng rất nhiều lao động nhưng giá trị gia tăng không cao - với nguyên liệu chủ yếu nhập từ các nước ngoài khối TPP. Khi Hiệp định TPP có hiệu lực, dù chuyển hướng sang nguồn nguyên liệu từ các nước TPP như Mỹ, Úc... được miễn thuế nhập khẩu, thì giá thành nguyên phụ liệu vẫn sẽ cao hơn nhiều so với nguồn nhập khẩu bấy lâu nay hay nguồn cung trong nước từ các doanh nghiệp FDI đang nở rộ do lợi thế về giá lao động, chi phí vận chuyển, thời gian giao hàng. Nhiều doanh nghiệp ở Mỹ đã lên tiếng lo ngại ngành xơ, sợi, vải, phụ liệu may của họ không thể cạnh tranh nổi với nguồn cung giá rẻ này.

Một điều rất quan trọng khác là tính liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong một ngành còn rất lỏng lẻo. Trước đây, khi chưa cổ phần hóa, các công ty sợi - dệt - nhuộm - may trong nước thường là những công ty con của công ty mẹ. Sau giai đoạn cổ phần hóa, các công ty con này trở thành công ty độc lập. Có liên kết với nhau hay không giờ là quyết định của từng công ty dựa trên bài toán hiệu quả kinh doanh chứ không còn là nghĩa vụ như trước và điều này vừa là thuận lợi vừa là khó khăn của các công ty độc lập này. Có giai đoạn các doanh nghiệp dệt - nhuộm phải chịu mua vải đầu vào giá cao hơn mức bình thường do khan hiếm nguồn cung sợi (đầu vào cho dệt) cũng như vải mộc (đầu vào cho nhuộm) mà nguyên nhân xuất phát từ việc các doanh nghiệp chuyên sản xuất sợi ồ ạt xuất khẩu sang Trung Quốc do giá mua phía Trung Quốc cao hơn so với thị trường nội địa. Điều này làm giá vải thành phẩm sau in - nhuộm - hoàn tất cao thêm.

Nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu ngành dệt may cho thấy doanh nghiệp dệt may Việt Nam chỉ có ưu thế hơn các doanh nghiệp ngành dệt may ở các nước khác trong khối TPP về tiền lương. Lương bình quân của lao động Việt Nam là 48-69 xu Mỹ/giờ, thấp nhất so với các nước như Mexico (56-73 xu Mỹ), Peru (1,17 đô la Mỹ) và Chile (1,86 đô la Mỹ). Thời gian làm việc hàng tuần của lao động Việt Nam thường cao hơn, thường là 48 giờ/tuần, trong khi các nước khác chỉ 40-45 giờ/tuần. Đây cũng là điểm quan trọng khiến người dân tại nhiều nước như Mỹ, Canada, Úc phản đối TPP do lo ngại mất việc làm, tiền lương/tiền công sẽ giảm, thời gian làm việc có khả năng tăng thêm để cạnh tranh với lao động Việt Nam.

Doanh nghiệp dệt may Việt Nam rất cần phải tỉnh táo, tự thân vận động để tận dụng được lợi thế mà TPP mang lại bằng các chuẩn bị kỹ hơn về nguồn nhân lực, tìm hiểu những quy định, tiêu chuẩn bắt buộc tuân thủ, tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp liên quan và dự phòng nhiều vấn đề nảy sinh chứ không nên trông chờ vào việc sẽ có phép màu tăng trưởng xảy ra mà không phải trả giá.

Nguồn báo Thời báo kinh tế Sài Gòn Online.

Tin tài trợ

Hỗ trợ --> Đầm thời trang
Hỗ trợ --> 
bản tin ngân hàng

Lĩnh vực dệt may tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm cao

Các dự án dệt may, sợi nhuộm… của nhà đầu tư Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông (Trung Quốc), Hàn Quốc… đã và đang dồn dập đổ vào Việt Nam đón đầu TPP.
www.goldenmark.org - Báo Hải quan phỏng vấn ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội DN Đầu tư nước ngoài.
Báo Hải quan phỏng vấn ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội DN Đầu tư nước ngoài.
Ngoài mặt tích cực là đáp ứng các quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi theo TPP, những dự án này đang dấy lên những lo ngại về vấn đề môi trường. Phóng viên Báo Hải quan phỏng vấn ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội DN Đầu tư nước ngoài.

Ông có cho rằng ô nhiễm môi trường là vấn đề cần quan tâm khi thu hút các dự án đầu tư vào lĩnh vực dệt may?

Vấn đề môi trường tất cả các ngành sản xuất kinh doanh đều phải quan tâm, song riêng lĩnh vực dệt may thì khả năng ô nhiễm tương đối cao. Nếu xử lý môi trường không tốt, các dự án này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sự phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai. Đó là lý do các nước tiên tiến rất ngại đầu tư vào dệt may, họ chỉ đầu tư vào các phân khúc rất cao. Nếu không dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề môi trường ở những dự án dệt may, chúng ta sẽ phải trả giá rất nặng nề. Trung Quốc, Ấn Độ đã từng trải qua điều này. Việt Nam cũng cần tránh “vết xe đổ” này. Nếu chúng ta chỉ tập trung phát triển ồ ạt về số lượng dự án dệt may, không quan tâm đến môi trường, để các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu thì nguy cơ gây ô nhiễm là rất cao.

Riêng về vấn đề công nghệ trong ngành dệt may, sợi nhuộm, nhiều DN nghĩ rằng mua công nghệ của Trung Quốc sẽ rẻ hơn, thu hồi vốn nhanh hơn là mua các công nghệ tiên tiến từ Đức, Mỹ… Nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mua công nghệ rẻ hơn chưa chắc đã lợi hơn khi mua công nghệ cao nếu xét về độ bền, tiêu hao nhiên liệu, hiệu suất sử dụng… Mua công nghệ giá đắt lợi hơn mua giá rẻ. Chúng ta cần chấp nhận nắm bắt xu thế mới, công nghệ mới của tương lai hơn là chạy theo những công nghệ người ta dần dần loại bỏ như công nghệ cũ, lạc hậu, chưa kể sản phẩm làm ra từ các công nghệ đó chưa chắc tốt. Điều này cũng phù hợp với xu thế thu hút đầu tư nước ngoài thời gian tới là ưu tiên công nghệ cao, có sức lan tỏa, không thu hút vốn FDI ồ ạt, dự án đầu tư vào ngành sử dụng nhiều lao động giá rẻ. Dệt may cũng nên đi theo hướng đó.

Có một cách không quá khó để chúng ta có thể khắc phục những rủi ro về mặt môi trường trong các dự án dệt may. Đó là nên quy hoạch tập trung ngành dệt may vào các KCN tập trung từ dệt, xe sợi, nhuộm hấp, may mặc. Lợi thế của các KCN tập trung này là các DN trong KCN có thể cung ứng sản phẩm cho nhau nhanh hơn, thuận lợi hơn. Ngoài ra, việc xử lý môi trường cũng dễ kiểm soát hơn bằng cách xây dựng khu xử lý chất thải tập trung. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy xử lý chất thải tập trung sẽ đảm bảo cho việc kiểm soát vấn đề ô nhiễm.

Nhưng dường như cái khó của việc làm KCN tập trung là làm thế nào thuyết phục các nhà đầu tư vào những KCN dệt may tập trung này, thưa ông?

Nếu tạo ra được quy hoạch hợp lý, với hạ tầng sẵn có thì nhà đầu tư sẽ rất muốn vào các KCN tập trung này vì họ được tạo điều kiện về giao thông, nhiên liệu, nhân lực. Đó là bài toán của Nhà nước. Tôi đã từng về KCN Bảo Minh (Nam Định), thấy rằng tại đây làm dệt may thành công khi liên kết giữa các nhà đầu tư Trung Quốc, Hồng Kông và Tổng công ty Dệt may Việt Nam, có quá trình sản xuất khép kín, làm từ bông dệt thành sợi, có nhà máy nhuộm, từ đó dệt và đến cuối cùng là nhà máy may, may những sản phẩm có thương hiệu quốc tế để XK. Nam Định làm được các KCN tập trung vì có truyền thống dệt may và có kinh nghiệm quản lý ngành dệt may. Các tỉnh có thể làm được như thế.

Đã có những địa phương như Đà Nẵng từ chối các dự án dệt may của nhà đầu tư Hồng Kông (Trung Quốc), nhiều địa phương khác như Ninh Bình xếp dệt may vào diện không ưu tiên thu hút đầu tư. Ông đánh giá gì về điều này?

Nhìn chung, các nhà đầu tư Trung Quốc không mẫu mực về lao động, công nghệ, môi trường. Họ sử dụng công nghệ thấp, chưa nói là lạc hậu. Vốn đầu tư cũng không lớn. Bình quân mỗi dự án của nhà đầu tư Trung Quốc đầu tư ở Việt Nam chỉ bằng ¼ so với nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc. Hiện nay, các DN Trung Quốc đang đẩy mạnh đầu tư vào dệt may ở Việt Nam, chúng ta cũng hoan nghênh thôi nhưng một số địa phương thấy khó quản lý nên hạn chế. Tôi được biết có tỉnh, cứ nhà đầu tư Trung Quốc đến là địa phương lắc đầu.

Trước việc dồn dập thành lập các KCN dệt may, vừa qua Bộ Kế hoạch và Đầu tư có công văn gửi đến tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị lưu ý vấn đề ô nhiễm môi trường. Ông có bình luận gì về động thái này?

Đó là sự chủ động của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, họ đã nhìn nhận được rằng các dự án dệt may luôn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm. Đây là điều các chuyên gia cũng nói nhiều. Bây giờ chúng ta mới hành động để cảnh báo về nguy cơ ô nhiễm là hơi muộn nhưng vẫn tốt hơn là không có động thái gì. Hiện nay, chúng ta coi trọng khâu hậu kiểm trong quản lý các dự án đầu tư nước ngoài. Những tiêu chuẩn về môi trường chúng ta có đầy đủ, chi tiết. Nếu DN nào sau khi đi vào hoạt động không đáp ứng được thì phải bị xử phạt, thậm chí thu hồi giấy phép đầu tư.

Các địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát dự án FDI. Bởi cơ chế phân cấp đã trao quyền cho địa phương từ khâu cấp phép đến quản lý sau cấp phép. Đi đôi với quyền là trách nhiệm. Địa phương phải có trách nhiệm quản lý vấn đề môi trường. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ có thể ra công văn thôi, nhưng tôi thấy cần thiết phải có chỉ đạo cao hơn từ phía Chính phủ để có biện pháp cụ thể bảo vệ môi trường, nhất là giai đoạn “bùng nổ” về thu hút FDI. Việt Nam đang trên đà trở thành trung tâm chế biến chế tạo mới của thế giới, song các vấn đề về ô nhiễm không khí, nguồn nước… có thể ảnh hưởng lâu dài đến thế hệ tương lai. Bài toán phát triển kinh tế luôn đi với sự trả giá về môi trường, cho nên phải hạn chế thấp nhất các tác hại đến môi trường.

Xin cảm ơn ông!
Báo Hải Quan Online .

CÔNG TY TNHH GIAO NHẬN GOLDEN MARK VIỆT NAM
Địa chỉ:122 Đường Nguyễn Hoàng, phường An Phú, quận 2, Tp.HCM
Email: lina@goldenmark.com.vn - website: www.goldenmark.org
skype: lina.khanh - Hotline: 0906.80.94.94(Ms.Khanh)
Hỗ trợ --> Cước vận tải đường biển
Hỗ trợ --> 
Cước vận tải đường biển quốc tế
Xem thêm -->cong ty van chuyen duong bien
Xem thêm -->công ty vận chuyển đường biển
Xem thêm -->Dịch vụ giao nhận hàng hóa đa phương thức
Xem thêm -->dich vu giao nhan hang hoa da phuong thuc
Xem thêm---> công ty giao nhận
Xem thêm--->cong ty giao nhan
Xem thêm--->công ty giao nhận vận chuyển
Xem thêm--->cong ty giao nhan van chuyen
Xem thêm--->công ty vận chuyển đường biển quốc tế
Xem thêm--->cong ty van chuyen duong bien quoc te

Xem thêm---> công ty giao nhận hàng hóa
Xem Thêm---> cong ty giao nhan hang hoa

Quy định mới về hàm lượng formaldehyt trong sản phẩm dệt may

Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư 37/2015/TT-BCT quy định về mức giới hạn và việc kiểm tra hàm lượng Formaldehyt và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may.

Thông tư này xây dựng theo hướng sửa đổi những bất cập đã tồn tại 6 năm qua khi thực hiện theo Thông tư 32/2009/TT-BCT và có hiệu lực từ ngày 15-12 tới.

Theo đó, hàm lượng formaldehyt trong sản phẩm dệt may không được vượt quá giới hạn, cụ thể như sau: Sản phẩm dệt may cho trẻ e dưới 36 tháng tuổi, mức quy định tối đa là 30mg/kg, sản phẩm dệt may tiếp xúc trực tiếp với da là 75mg/kg và sản phẩm dệt may không tiếp xúc trực tiếp với da là 300mg/kg.

Hàm lượng mỗi amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may không được vượt quá 30mg/kg, được quy định chi tiết lại phụ lục 3 của Thông tư này.

Những sản phẩm dệt may không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này gồm sợi, vải mộc chưa qua xử lý hoàn tất; Hàng miễn trừ ngoại giao, hàng trong túi lãnh sự, tài sản di chuyển, quà biếu, quà tặng trong định mức miễn thuế nhập khẩu theo quy định tại Quyết định số 31/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đáng chú ý, Thông tư 37 quy định thực hiện kiểm tra chuyên ngành với 4 hình thức: Kiểm tra thường, kiểm tra giảm, kiểm tra hồ sơ và kiểm tra xác suất. Theo đó, kiểm tra thông thường là theo đúng qui định hiện hành.

Kiểm tra hồ sơ được thực hiện đối với những mặt hàng có chứng chỉ chất lượng, hàng mẫu, hàng của các doanh nghiệp có hệ thống kiểm soát chất lượng phù hợp với quy định tại Thông tư và một số nội dung cụ thể khác. Đối tượng này sẽ áp dụng hình thức kiểm tra xác suất theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Đối với sản phẩm dệt may nhập khẩu cùng một mặt hàng, mã hàng do cùng một nhà sản xuất cung cấp,  sau 3 lần kiểm tra chất lượng liên tiếp tại một  tổ chức  được ủy quyền, các lô hàng đều đáp ứng yêu cầu chất lượng theo quy định tại Thông tư này, thì được áp dụng  hình thức  kiểm tra  giảm,  trừ trường hợp  được quy định ở hình thức kiểm tra thường.

Thông tư cũng quy định, từ ngày 1-7-2016, cơ quan Hải quan chỉ thông quan khi tổ chức, cá nhân nhập khẩu xuất trình thông báo kết quả kiểm tra nhà nước đối với hàm lượng formaldehyt và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may cho lô hàng nhập khẩu đạt yêu cầu theo quy định tại Thông tư này kèm theo hồ sơ nhập khẩu của lô hàng.

Phan Thu - Báo Hải Quan Online



Rủi ro từ những khu công nghiệp dệt nhuộm đón đầu TPP

Hàng loạt dự án được cấp phép thời gian gần đây khiến các cơ quan quản lý phải lên tiếng lưu ý về công nghệ cũng như nguy cơ ô nhiễm môi trường,


Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) kết thúc đàm phán tháng trước và có thể sớm được 12 nước thành viên thông qua được xem là cơ hội lớn với ngành dệt may Việt Nam.
Bên cạnh những lợi thế sẵn có về trình độ sản xuất, giá nhân công... việc hiệp định thương mại tự do mới này đưa ra điều kiện phải sử dụng nguyên liệu nội khối (Việt Nam được chậm áp dụng 5 năm với một số mặt hàng), đã mở ra cánh cửa cho các cơ sở sản xuất sợi, dệt, nhuộm... có cơ hội phát triển. Nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ may mặc cũng vì thế mà đua tìm tới Việt Nam trong những tháng qua.

Gần đây nhất, tỉnh Đồng Nai vừa cấp phép cho dự án "khủng" của Công ty TNHH Hyosung (Thổ Nhĩ Kỳ) trị giá 660 triệu USD. Đây được xem là dự án dệt may lớn nhất từ đầu năm. Mục tiêu của dự án là sản xuất và gia công các loại sợi như: sợi vải mành, sợi spandex, nylon, polyester, sợi để sản xuất thảm…

Trước đó vào tháng 6, tỉnh Bình Dương cũng trao giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty TNHH Polytex Far Eastern (Đài Loan) đầu tư 274 triệu USD mở nhà máy sản xuất sợi tổng hợp, dệt nhuộm với diện tích 99 ha. Ông Cheng Chen Yu - Chủ tịch HĐQT Công ty Polytex Far Eastern đánh giá rất cao tiềm năng về dệt may của Việt Nam và cho biết sẽ tiếp tục mở rộng nhà máy ở giai đoạn 2 với số vốn dự kiến khoảng gần một tỷ USD.

Một dự án trị giá 300 triệu USD khác cũng vừa mới được cấp phép tại TP HCM. Đây là dự án của Công ty TNHH Worldon Vietnam (Hồng Kông) chủ yếu sản xuất các sản phẩm may cao cấp. Việc TPP trở thành "thỏi nam châm" thu hút vốn vào dệt may cũng được thể hiện trong các số liệu thống kê khi Cục đầu tư nước ngoài cho biết trong hơn 11 tỷ USD vốn FDI đăng ký vào Việt Nam từ đầu năm, có 3,5 tỷ USD đổ vào dệt may.

Năm 2014, nhiều các đại gia Trung Quốc, Hàn Quốc... ồ ạt đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam dù TPP chưa hoàn tất. Nổi bật là Dự án khu công nghiệp Texhong Hải Hà trị giá 215 triệu USD của Tập đoàn Texhong (Trung Quốc); Dự án sản xuất sợi, dệt nhuộm và may mặc ở khu công nghiệp Đại An-Hải Dương của Tập đoàn TAL (Hong Kong) trị giá 600 triệu USD; Dự án nhà máy sản xuất sợi-dệt-nhuộm vốn đầu tư 68 triệu USD của Tập đoàn dệt may Yulun Giang Tô (Trung Quốc)…

Cùng với các dự án mới được cấp phép, một loạt các dự án đang trong quá trình xây dựng cũng được tiến hành khẩn trương như: Dự án dệt - nhuộm – may Delta Galil tại tỉnh Bình Định của nhà đầu tư Israel, Dự án hàng may mặc Onewoo của nhà đầu tư Hàn Quốc...

Cũng nhận thấy những cơ hội mà TPP mang lại, các "ông lớn" trong nước như Nhà Bè, Việt Tiến, Vinatex… cũng vừa công bố nhiều kế hoạch mở rộng quy mô, xây dựng các nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu.

Tổng công ty dệt may Hà Nội (Hanosimex) đang gấp rút thực hiệm Dự án cụm dệt may Nam Đàn chuyên sản xuất các loại sợi với vốn đầu tư gần 1.300 tỷ đồng. Doanh nghiệp may Việt Tiến đã chi trên 500 tỷ đồng để thực hiện kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất trong năm 2015-2016, còn May Nhà Bè đang triển khai xây dựng nhà máy may quy mô 4.000 lao động. Tổng công ty Phong Phú cũng chi gần 350 tỷ đồng để xây dựng nhà máy dệt sợi. Tổng công ty Dệt may Hòa Thọ đầu tư 90 tỷ đồng mở rộng quy mô sản xuất. Nhằm huy động vốn, các doanh nghiệp dệt may này đang gấp rút chuẩn bị hồ sơ để niêm yết trên sàn chứng khoán.

Tốc độ đầu tư vào ngành dệt may gia tăng chóng mặt khiến Bộ Kế hoạch & Đầu tư vừa phải lên tiếng khuyến cáo về hiện tượng nở rộ khu công nghiệp dệt may để đón đầu TPP, đồng thời cảnh báo nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, khả năng cung cấp chỗ ở cho công nhân, nhập khẩu thiết bị công nghệ lạc hậu và tiêu tốn nhiều năng lượng. Theo đó Bộ yêu cầu các UBND địa phương khi cấp phép đầu tư các khu công nghiệp dệt may phải đáp ứng tỷ lệ lấp đầy, đáp ứng tiêu chuẩn về công nghệ và môi trường, dây chuyền công nghệ sử dụng.

Trao đổi với VnExpress gần đây, Bộ trưởng Khoa học & Công nghệ - Nguyễn Quân cũng cho biết nhận được nhiều thông tin về việc các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là Trung Quốc đang có ý định bỏ vốn vào các dự án dệt, sợi tại Việt Nam. Tuy nhiên, quan điểm của cơ quan quản lý là cần hết sức thận trọng, đặc biệt là với yếu tố công nghệ và môi trường.

Về phía doanh nghiệp, ông Vũ Đức Giang - Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, ngành dệt may Việt Nam sẽ tăng trưởng 25%/năm khi có TPP và trở thành công xưởng dệt may của khu vực chỉ sau Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2020 dự báo đạt khoảng 55 tỷ USD. Theo đó, việc các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước đầu tư lớn vào dệt may là xu hướng tất yếu bởi đây là ngành được đánh giá là hưởng lợi nhiều nhất trong TPP.

"Đừng cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư hàng tỷ đô vào dệt may là họ sẽ hưởng lợi hết từ TPP của chúng ta. Lợi ích sẽ được chia đều cho các bên, các doanh nghiệp trong nước đang gấp rút mở rộng quy mô, xây dựng nhà máy mới. Ngành phụ trợ, nguyên liệu cho dệt may sẽ được đáp ứng, hưởng lợi về thuế suất. Vấn đề còn lại chỉ là kiểm soát tốt ô nhiễm môi trường từ dệt nhuộm", Chủ tịch May 10 nói.

Vị này cho rằng trên bản đồ dệt may thế giới hầu hết các quốc gia đều xây dựng các khu công nghiệp dệt nhuộm ở gần biển. Việc các khu công nghiệp dệt may của Việt Nam được xây dựng ở gần cửa biển không có gì lạ bởi lượng nước thải quá lớn chỉ có thể xả ra biển. "Tiêu chuẩn môi trường ở Việt Nam giờ khắt khe lắm, nếu không đạt loại A thì đóng cửa hết, nên người dân không phải quá lo điều đó. Bài học ô nhiễm từ Trung Quốc vẫn còn đó, chúng tôi đã học được điều này và yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn nước thải của các khu công nghiệp", ông Giang khẳng định.

Mới đây, trong một văn bản tham luận tại hội thảo Thị trường chứng khoán cuối năm cơ hội từ cổ phiếu dệt may, Hiệp hội dệt may Việt Nam đề nghị Chính Phủ đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại các khu vực dệt nhuộm để tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài. Đồng thời, sớm lập quy hoạch các khu vực phát triển dệt may lớn trên cả 3 miền Bắc – Trung – Nam. Trên thực tế, trong năm 2015, không phải tỉnh thành nào cũng nồng nhiệt chào đón các dự án dệt nhuộm. Tỉnh Đà Nẵng đã từng từ chối dự án 200 triệu USD của nhà đầu tư Hong Kong vì lo ngại ô nhiễm môi trường. Hay như TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương…đều là những tỉnh thành đi tiên phong trong việc nói không với các dự án dệt may có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao.

Bạch Dương - vnexpress.net


Hỗ trợ --> Mặt dây chuyền đẹp
Hỗ trợ --> 
domain đẹp