Hiển thị các bài đăng có nhãn Hiep-dinh-TPP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hiep-dinh-TPP. Hiển thị tất cả bài đăng

Hỗ trợ doanh nghiệp “vượt sóng” TPP

Doanh nghiệp cần hiểu và thực thi tốt các cam kết có trong TPP về chất lượng dịch vụ và đầu tư, về xuất xứ đối với hàng hóa, về sở hữu trí tuệ, cũng như các biện pháp về phòng vệ thương mại. Quan trọng nhất, các doanh nghiệp cần nắm chắc thông tin về hiệu lực, về lộ trình thực hiện các cam kết.

Ngày 15/3, tại Hà Nội, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) phối hợp với Vụ Chính sách đa biên (Bộ Công Thương) tổ chức Hội thảo “Hiệp định TPP - những điều doanh nghiệp cần biết”.
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được ký kết chính thức vào ngày 4/2/2016. Đây là hiệp định thương mại tự do lớn nhất của Việt Nam cho tới nay và được đánh giá sẽ có tác động mạnh mẽ tới toàn bộ nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.

Với tư cách là cổ đông Nhà nước, SCIC tổ chức Hội thảo này với mục đích giúp các doanh nghiệp nắm rõ các cơ hội và thách thức khi gia nhập TPP, đồng thời nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của hiệp định này, giúp doanh nghiệp tận dụng TPP hiệu quả để phát triển.

Các nội dung chính của Hội thảo bao gồm: Tổng quan về đàm phán TPP; Những cam kết chính về doanh nghiệp Nhà nước (SOE), thương mại điện tử, lao động, công đoàn trong TPP ảnh hưởng tới doanh nghiệp; Những lưu ý quan trọng với doanh nghiệp khi thực thi TPP; Những lợi ích và thách thức khi Việt Nam tham gia TPP. Đặc biệt, Hội thảo sẽ giới thiệu cách thức để các doanh nghiệp tận dụng TPP hiệu quả…

Ông Nguyễn Hồng Hiển, Phó Tổng giám đốc SCIC cho biết: “SCIC hiện đang thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại gần 200 doanh nghiệp, hoạt động trên nhiều ngành nghề, lĩnh vực, và đều chịu tác động của TPP.

Các doanh nghiệp cần hiểu và thực thi tốt các cam kết về chất lượng dịch vụ và đầu tư, về xuất xứ đối với hàng hóa, về sở hữu trí tuệ, về lao động và môi trường, các quy định về mua sắm công và doanh nghiệp Nhà nước, cũng như các biện pháp về phòng vệ thương mại. Quan trọng nhất, các doanh nghiệp cần nắm chắc thông tin về hiệu lực, về lộ trình thực hiện các cam kết. Đó cũng là mấu chốt quan trọng, quyết định sự thành công hay không của doanh nghiệp trong hội nhập”.

Với vai trò là cổ đông của doanh nghiệp, SCIC luôn chủ động xây dựng và thực hiện phương án tái cơ cấu doanh nghiệp; nghiên cứu, tham gia quyết định các phương án kinh doanh của doanh nghiệp; đầu tư thêm vốn vào các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, qua đó tạo ra giá trị gia tăng cho vốn Nhà nước; tập trung xử lý tồn tại của các doanh nghiệp thuộc danh mục quản lý...

Bên cạnh đó, SCIC thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo nhằm chia sẻ với các doanh nghiệp những kinh nghiệm thực tế, cập nhật những thay đổi của chính sách… để các doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, từ đó nâng cao hiệu quả và giá trị doanh nghiệp.

Hội thảo này cũng là một trong những nội dung hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp mà SCIC luôn cố gắng đem đến cho các doanh nghiệp trong danh mục quản lý của SCIC trong hơn 10 năm qua, kể từ khi thành lập năm 2005.

Nguồn Báo Chính Phủ

Xem thêm tin: Toàn văn TPP, tin ngành dệt may, công ty cung cấp bông sợi, công ty vận chuyển đường biển, công ty giao nhận vận chuyển


WB nói về lợi thế “không nước nào có” của Việt Nam trong TPP

Ngân hàng Thế giới vừa công bố chuyên đề về TPP, sáng 2/12, với nhiều nội dung đáng chú ý về Việt Nam...Với chuyên đề về Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) vừa được công bố sáng 2/12, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng Việt Nam có một số lợi thế so sánh, mà không nước nào có.
WB nói về lợi thế “không nước nào có” của Việt Nam trong TPP
WB nói về lợi thế “không nước nào có” của Việt Nam trong TPP
Khác biệt đáng kể
Báo cáo của WB tính toán, TPP có thể sẽ bổ sung thêm 8% GDP, 17% giá trị xuất khẩu thực tế, và 12% lượng tích lũy tài sản cho Việt Nam trong vòng 20 năm tới.

Phần đóng góp chính vào con số này chính là mức giảm thuế quan đánh vào hàng xuất khẩu vào các nước trong khối, nhất là dệt may và phụ kiện.

Trong số các nước tham gia TPP hiện nay, Việt Nam là nước có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất và có một số lợi thế so sánh đặc biệt mà không nước nào có được, cụ thể là ngành công nghiệp chế tạo thâm dụng lao động và các ngành hiện nay đang chịu thuế suất cao như dệt may, chuyên gia WB nhấn mạnh.

WB cũng cho rằng, TPP sẽ làm tăng thêm khối lượng FDI vào Việt Nam và làm tăng năng lực xuất khẩu, kể các các nhà cung cấp thượng nguồn cho các ngành hiện đang bị chi phối bởi quy định nghiêm ngặt về nguồn gốc xuất xứ (ví dụ dệt may).

Bên cạnh đó, việc cắt giảm các biện pháp phi thuế quan cũng sẽ đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Đầu tư dự kiến sẽ tăng trên 20% khi TPP đi vào thực hiện và sẽ làm tăng đáng kể lượng vốn đầu tư và tăng trưởng dài hạn.

Tiền lương 5 nhóm ngành dự kiến cũng sẽ tăng trong giai đoạn 2020-2035, trong đó tiền lương nhóm tay nghề thấp tăng nhanh nhất.

Tác động tiếp theo là TPP sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam tăng khả năng thâm nhập thị trường và mở rộng cơ hội xuất khẩu. Hầu hết các loại thuế quan và nhiều biện pháp phi thuế quan đối với sản phẩm công nghiệp sẽ bị loại bỏ và cắt giảm ngay lập tức; thuế quan và các chính sách hạn chế khác đối với sản phẩm nông nghiệp sẽ bị loại bỏ và cắt giảm dần.

Thông tin từ chuyên đề TPP của WB cũng nhấn mạnh, việc tiếp cận thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản sẽ đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam.

Cả trong lẫn ngoài
Theo đánh giá của WB, Việt Nam đã thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giảm xuất khẩu nguyên liệu thô và tăng sản phẩm chế tạo có giá trị cao hơn. TPP sẽ tiếp tục đẩy nhanh quá trình này.

Hiện nay tỷ trọng hàng chế tạo chiếm khoảng 58% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng đến năm 2035 sẽ tăng thêm 30% nữa, báo cáo ước tính.

Với nhập khẩu, chuyên gia kinh tế cao cấp của WB, TS. Phạm Minh Đức đánh giá, TPP cũng sẽ làm cho Việt Nam nhập khẩu nhiều hơn, thể hiện mức độ hội nhập ngày càng cao vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhập khẩu hàng chế tạo, chủ yếu là sản phẩm trung gian (chiếm 2/3 nhập khẩu theo kịch bản cơ sở năm 2015) sẽ tăng mạnh hơn nhiều so với nông sản (10% nhập khẩu năm 2015) và dịch vụ.

Nhập khẩu hàng dệt may, phụ kiện và da giày cũng được dự báo sẽ gia tăng nhanh chóng từ các nước trong khối, do quy tắc xuất xứ trong TPP.

Nhìn tổng thể, WB cho rằng việc Việt Nam thực hiện các cam kết TPP cũng đồng nghĩa với thực hiện một chương trình cải cách trong nước và quyết liệt.
NGUYÊN VŨ - vneconomy.vn


Xem thêm -->công ty vận chuyển đường biển quốc tế

Xem thêm -->cong ty van chuyen duong bien quoc te

Dệt may và TPP, nỗi lo còn dài

Với TPP, xuất khẩu của ngành dệt may được kỳ vọng tăng mạnh nhất, khi 184/186 sản phẩm dệt may không bị áp dụng nguyên tắc “từ sợi trở đi” (Yarn - forward origin rule). Nhưng điều đáng tiếc là 184 sản phẩm này chỉ chiếm 15% thị phần trong thị trường TPP, 85% thị phần nằm trong hai sản phẩm còn lại, như Bộ trưởng Bộ Công Thương vừa nói trước Quốc hội.
Với TPP, xuất khẩu của ngành dệt may được kỳ vọng tăng mạnh nhất, khi 184/186 sản phẩm dệt may không bị áp dụng nguyên tắc “từ sợi trở đi”
Nỗi lo TPP.
Chưa kể, ngành này lâu nay phát triển nhờ gia công xuất khẩu và phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, trong đó doanh nghiệp FDI chiếm đến 60-72% kim ngạch xuất khẩu dù chỉ chiếm 25% tổng số doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam. Cho nên, dù xuất khẩu có tăng trưởng thì dòng tiền sẽ chảy vào túi các doanh nghiệp nước ngoài nhiều hơn thay vì các doanh nghiệp Việt Nam.

Thời gian qua, tuy tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã triển khai nhiều dự án, chủ yếu vào ngành may, để chuẩn bị cho TPP nhưng Trung Quốc và một số quốc gia khác còn đổ tiền đầu tư lớn hơn, kể cả việc xây khu công nghiệp dệt may (tại Nam Định).

Các doanh nghiệp may của chúng ta hiện gần như chỉ tập trung gia công sản phẩm - công đoạn dù sử dụng rất nhiều lao động nhưng giá trị gia tăng không cao - với nguyên liệu chủ yếu nhập từ các nước ngoài khối TPP. Khi Hiệp định TPP có hiệu lực, dù chuyển hướng sang nguồn nguyên liệu từ các nước TPP như Mỹ, Úc... được miễn thuế nhập khẩu, thì giá thành nguyên phụ liệu vẫn sẽ cao hơn nhiều so với nguồn nhập khẩu bấy lâu nay hay nguồn cung trong nước từ các doanh nghiệp FDI đang nở rộ do lợi thế về giá lao động, chi phí vận chuyển, thời gian giao hàng. Nhiều doanh nghiệp ở Mỹ đã lên tiếng lo ngại ngành xơ, sợi, vải, phụ liệu may của họ không thể cạnh tranh nổi với nguồn cung giá rẻ này.

Một điều rất quan trọng khác là tính liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong một ngành còn rất lỏng lẻo. Trước đây, khi chưa cổ phần hóa, các công ty sợi - dệt - nhuộm - may trong nước thường là những công ty con của công ty mẹ. Sau giai đoạn cổ phần hóa, các công ty con này trở thành công ty độc lập. Có liên kết với nhau hay không giờ là quyết định của từng công ty dựa trên bài toán hiệu quả kinh doanh chứ không còn là nghĩa vụ như trước và điều này vừa là thuận lợi vừa là khó khăn của các công ty độc lập này. Có giai đoạn các doanh nghiệp dệt - nhuộm phải chịu mua vải đầu vào giá cao hơn mức bình thường do khan hiếm nguồn cung sợi (đầu vào cho dệt) cũng như vải mộc (đầu vào cho nhuộm) mà nguyên nhân xuất phát từ việc các doanh nghiệp chuyên sản xuất sợi ồ ạt xuất khẩu sang Trung Quốc do giá mua phía Trung Quốc cao hơn so với thị trường nội địa. Điều này làm giá vải thành phẩm sau in - nhuộm - hoàn tất cao thêm.

Nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu ngành dệt may cho thấy doanh nghiệp dệt may Việt Nam chỉ có ưu thế hơn các doanh nghiệp ngành dệt may ở các nước khác trong khối TPP về tiền lương. Lương bình quân của lao động Việt Nam là 48-69 xu Mỹ/giờ, thấp nhất so với các nước như Mexico (56-73 xu Mỹ), Peru (1,17 đô la Mỹ) và Chile (1,86 đô la Mỹ). Thời gian làm việc hàng tuần của lao động Việt Nam thường cao hơn, thường là 48 giờ/tuần, trong khi các nước khác chỉ 40-45 giờ/tuần. Đây cũng là điểm quan trọng khiến người dân tại nhiều nước như Mỹ, Canada, Úc phản đối TPP do lo ngại mất việc làm, tiền lương/tiền công sẽ giảm, thời gian làm việc có khả năng tăng thêm để cạnh tranh với lao động Việt Nam.

Doanh nghiệp dệt may Việt Nam rất cần phải tỉnh táo, tự thân vận động để tận dụng được lợi thế mà TPP mang lại bằng các chuẩn bị kỹ hơn về nguồn nhân lực, tìm hiểu những quy định, tiêu chuẩn bắt buộc tuân thủ, tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp liên quan và dự phòng nhiều vấn đề nảy sinh chứ không nên trông chờ vào việc sẽ có phép màu tăng trưởng xảy ra mà không phải trả giá.

Nguồn báo Thời báo kinh tế Sài Gòn Online.

Tin tài trợ

Hỗ trợ --> Đầm thời trang
Hỗ trợ --> 
bản tin ngân hàng

Quy định mới về hàm lượng formaldehyt trong sản phẩm dệt may

Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư 37/2015/TT-BCT quy định về mức giới hạn và việc kiểm tra hàm lượng Formaldehyt và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may.

Thông tư này xây dựng theo hướng sửa đổi những bất cập đã tồn tại 6 năm qua khi thực hiện theo Thông tư 32/2009/TT-BCT và có hiệu lực từ ngày 15-12 tới.

Theo đó, hàm lượng formaldehyt trong sản phẩm dệt may không được vượt quá giới hạn, cụ thể như sau: Sản phẩm dệt may cho trẻ e dưới 36 tháng tuổi, mức quy định tối đa là 30mg/kg, sản phẩm dệt may tiếp xúc trực tiếp với da là 75mg/kg và sản phẩm dệt may không tiếp xúc trực tiếp với da là 300mg/kg.

Hàm lượng mỗi amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may không được vượt quá 30mg/kg, được quy định chi tiết lại phụ lục 3 của Thông tư này.

Những sản phẩm dệt may không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này gồm sợi, vải mộc chưa qua xử lý hoàn tất; Hàng miễn trừ ngoại giao, hàng trong túi lãnh sự, tài sản di chuyển, quà biếu, quà tặng trong định mức miễn thuế nhập khẩu theo quy định tại Quyết định số 31/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đáng chú ý, Thông tư 37 quy định thực hiện kiểm tra chuyên ngành với 4 hình thức: Kiểm tra thường, kiểm tra giảm, kiểm tra hồ sơ và kiểm tra xác suất. Theo đó, kiểm tra thông thường là theo đúng qui định hiện hành.

Kiểm tra hồ sơ được thực hiện đối với những mặt hàng có chứng chỉ chất lượng, hàng mẫu, hàng của các doanh nghiệp có hệ thống kiểm soát chất lượng phù hợp với quy định tại Thông tư và một số nội dung cụ thể khác. Đối tượng này sẽ áp dụng hình thức kiểm tra xác suất theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Đối với sản phẩm dệt may nhập khẩu cùng một mặt hàng, mã hàng do cùng một nhà sản xuất cung cấp,  sau 3 lần kiểm tra chất lượng liên tiếp tại một  tổ chức  được ủy quyền, các lô hàng đều đáp ứng yêu cầu chất lượng theo quy định tại Thông tư này, thì được áp dụng  hình thức  kiểm tra  giảm,  trừ trường hợp  được quy định ở hình thức kiểm tra thường.

Thông tư cũng quy định, từ ngày 1-7-2016, cơ quan Hải quan chỉ thông quan khi tổ chức, cá nhân nhập khẩu xuất trình thông báo kết quả kiểm tra nhà nước đối với hàm lượng formaldehyt và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may cho lô hàng nhập khẩu đạt yêu cầu theo quy định tại Thông tư này kèm theo hồ sơ nhập khẩu của lô hàng.

Phan Thu - Báo Hải Quan Online



12 nước mong TPP được nhanh chóng thông qua

Lãnh đạo của các nước thành viên TPP cho hay toàn văn hiệp định TPP đã sẵn sàng cho việc rà soát và xem xét trước khi được ký kết.
Bên lề Hội nghị cấp cao APEC ở Philippines, ngày 18/11, lãnh đạo của 12 quốc gia gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam đã gặp nhau để đánh dấu việc kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
www.goldenmark.org - Đại diện 12 nước thành viên TPP chụp ảnh sau khi hiệp định hoàn tất đàm phán ngày 5/10/2015. Ảnh: USDR
Đại diện 12 nước thành viên TPP chụp ảnh sau khi hiệp định hoàn tất đàm phán ngày 5/10/2015. Ảnh: USDR
Theo tuyên bố chung của lãnh đạo các nước, sau hơn 5 năm đàm phán, các đoàn đã đạt được mục tiêu đề ra vào năm 2011, đó là thiết lập một hiệp định khu vực toàn diện và cân bằng, trải dài khắp khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm 3 lục địa và tạo ra một thị trường rộng lớn với 800 triệu dân.

Thông qua việc xây dựng các quy tắc thương mại tiêu chuẩn cao để hỗ trợ hoạt động giao thương trong thế kỷ XXI, thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư đầy tham vọng, TPP sẽ củng cố và mở rộng các mối liên kết cùng có lợi giữa các nền kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu, hỗ trợ tạo công ăn việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển cũng như hỗ trợ cải cách và xóa đói giảm nghèo, đồng thời đảm bảo những lợi ích tốt nhất cho người dân.

"Chúng tôi vui mừng nhận thấy toàn văn hiệp định TPP đã sẵn sàng cho việc rà soát và xem xét trước khi được ký kết. Chúng tôi mong sắp tới sẽ ký kết để nhanh chóng xem xét và thông qua hiệp định TPP theo đúng thủ tục nội bộ ở mỗi nước thành viên", tuyên bố chung cho biết. Tiếp đó, các nước sẽ tập trung thực thi đầy đủ hiệp định với mục tiêu để những người tiêu dùng, công nhân, nông dân và các doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ, có thể gặt hái các lợi ích của hiệp định càng sớm càng tốt.

Song song với việc tập trung vào phê chuẩn và thực thi kết quả đàm phán, lãnh đạo các nước cũng chú ý tới sự quan tâm của các nền kinh tế trong khu vực. Sự quan tâm này khẳng định rằng thông qua TPP, 12 nước thành viên đang tạo ra một mô hình mới và hấp dẫn cho hoạt động trao đổi thương mại tại một trong những khu vực tăng trưởng nhanh và năng động nhất thế giới.

Các nước bắt đầu đàm phán về TPP từ tháng 3/2010, với các vấn đề về thương mại, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn môi trường và lao động, chính sách thu mua, cạnh tranh và công ty quốc doanh, quy trình xử lý tranh chấp... Sau khi hoàn tất, TPP sẽ bao phủ 40% kinh tế toàn cầu và bổ sung cho GDP thế giới thêm gần 300 tỷ USD mỗi năm.

Việt Nam mới đây cũng công bố những nội dung cam kết của hiệp định. Theo đó, các nước TPP cam kết mở cửa khá cao dành cho Việt Nam, với 78-95% dòng thuế nhập khẩu được xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực. Các mặt hàng còn lại sẽ có lộ trình xóa bỏ thuế trong vòng 5-10 năm, trừ một vài hàng hóa nhạy cảm sẽ có lộ trình trên 10 năm hoặc áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan.

Hiện tại, các nước thành viên hy vọng hiệp định được ký kết vào đầu năm sau và thông qua sau 1,5-2 năm.


Huyền Thư - vnexpress.net

Ngành nhựa hội nhập: Cơ hội trong thách thức

Hội nhập là xu hướng tất yếu và được kỳ vọng sẽ mở ra những cơ hội, đồng thời tạo động lực để năng động hóa, bền vững hóa và cải thiện năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trước khi hưởng những “trái ngọt”, có rất nhiều “thách thức” mà các doanh nghiệp phải vượt qua.
Ngành nhựa hội nhập: Cơ hội trong thách thức
Ngành nhựa hội nhập: Cơ hội trong thách thức.
Việc tham gia các hiệp định tự do hóa thương mại (FTA) song phương và đa phương, đặc biệt là các FTA thế hệ mới, các doanh nghiệp nhựa Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ những ưu đãi thuế quan để thâm nhập và mở rộng thị trường, cơ hội đổi mới và nâng cấp công nghệ, tăng quy mô sản xuất từ làn sóng đầu tư và liên doanh với nước ngoài… Tuy nhiên, trong mỗi cơ hội đó đều tồn tại các thách thức lớn mà các doanh nghiệp phải vượt qua, như một điều kiện để biến cơ hội thành hiện thực…

Nguyên tắc xuất xứ: Thách thức đầu tiên để hưởng các ưu đãi thuế quan
Theo đánh giá của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), nguyên liệu sản xuất trong nước hiện chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu với các sản phẩm chủ yếu gồm nhựa PVC, PET, PP. Khoảng 70% nguyên phụ liệu còn lại của ngành đang phụ thuộc vào nhập khẩu. Đây là một trở ngại rất lớn cho ngành nhựa xuất khẩu của Việt Nam nếu muốn được hưởng các ưu đãi thuế quan khi tham gia các hiệp định thương mại song phương và đa phương.

Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, năm 2014, tổng nguyên liệu nhựa nhập khẩu là 3,45 triệu tấn với trị giá 6,32 tỷ USD. Năm 2015, từ đầu năm đến trung tuần tháng 10/2015, Việt Nam xuất khẩu 282 nghìn tấn chất dẻo nguyên liệu, trị giá 329,4 triệu USD và 1,61 tỷ USD sản phẩm từ chất dẻo, chiếm gần 1,3% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam từ đầu năm đến nay. Ở chiều nhập khẩu, tính chung từ đầu năm đến nay nhập 2,96 triệu tấn chất dẻo nguyên liệu, trị giá 4,6 tỷ USD, chiếm 3,53% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong cùng giai đoạn. Nhập khẩu sản phẩm từ chất dẻo đạt 2,94 tỷ USD, chiếm 2,5% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa. Như vậy, từ đầu năm đến nay, nước ta đã nhập siêu 4,2 tỷ USD chất dẻo nguyên liệu và 1,33 tỷ USD sản phẩm từ chất dẻo. Điều này cho thấy tình trạng phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của ngành chất dẻo và đồ nhựa của Việt Nam vẫn còn rất nặng nề. Doanh nghiệp nhựa Việt Nam chỉ mới nhận được lợi thế lớn nhất từ Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hàn Quốc và Hiệp định Thương mại Việt Nam - Nhật Bản. Bởi với các hiệp định thương mại này không xét đến yếu tố nguyên liệu nhập khẩu, khi xuất khẩu sang Hàn Quốc và Nhận Bản sẽ được nhận mức thuế ưu đãi 5% - 0%. Trong khi với các hiệp định khác, hàng xuất khẩu muốn được hưởng ưu đãi thuế thì phải đảm bảo quy tắc xuất xứ nguyên liệu sản xuất.

Trong khi đó, ngành nhựa ở một số quốc gia trong khu vực ASEAN đã bước sang trình độ sản xuất mới. Ví dụ, ngành nhựa của Malaysia - nhà cung cấp hàng đầu màng kéo nhựa polyetylen của khu vực châu Á - Thái Bình Dương… Malaysia cũng là một nước thành viên của các FTA đa phương mà Việt Nam tham gia, cùng được hưởng lợi từ dỡ bỏ hàng rào thuế quan khi xuất khẩu sang các nước thành viên. Nếu Malaysia đáp ứng tốt hơn Việt Nam các tiêu chuẩn về nguyên tắc xuất xứ, hàng nhựa của họ thậm chí sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn nữa so với hiện nay trước hàng nhựa Việt Nam.

Hàng rào kỹ thuật: Càng dỡ bỏ thuế càng thêm thắt chặt
Theo nhận định của các chuyên gia, một khi hàng rào thuế quan bị dỡ bỏ, hàng rào kỹ thuật sẽ càng được củng cố hơn tại hầu hết các nước nhập khẩu.

Điểm yếu lớn nhất của ngành nhựa Việt Nam là công nghệ sản xuất lạc hậu. Do sản phẩm của Việt Nam đứng ở phân khúc thấp nên các doanh nghiệp ít chú trọng đến việc đầu tư công nghệ hiện đại. Điều này gây khó khăn lớn cho các sản phẩm nhựa của Việt Nam để vượt qua những hàng rào kỹ thuật. Đặc biệt, khi hàng rào thuế quan bị xóa bỏ, các nước sẽ có xu hướng gia tăng các hàng rào kỹ thuật một cách hợp lệ để ngăn chặn nhập khẩu ồ ạt hàng hóa từ nước khác. Cuộc cạnh tranh của hàng nhựa Việt Nam với hàng nhựa các nước khác sẽ gặp áp lực lớn từ các tiêu chuẩn về kỹ thuật và vệ sinh, an toàn sản phẩm.

Ví dụ, xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc có thể sẽ thuận lợi hơn khi hiệp định TPP được thực hiện nhưng có một thực tế là hai thị trường này rất khó tính, đòi hỏi sản phẩm nhựa kỹ thuật cao nên các doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật và chất lượng nếu không có sự đầu tư đổi mới về công nghệ.

Đối với thị trường Mỹ, châu Âu, sản phẩm nhập khẩu khá giản đơn như bao bì, màng bọc thực phẩm, tấm bạt nên dễ đáp ứng hơn về mặt công nghệ. Hàng hóa của Việt Nam nhìn chung có lợi thế cạnh tranh nổi trội về giá so với hàng sản xuất trong nước của họ bởi chi phí nhân công thấp. Tuy nhiên, biện pháp rào cản kỹ thuật mà Mỹ và châu Âu thường áp dụng rất cao. Ngoài ra những mặt hàng có giá bán thấp này còn phải đối mặt với rủi ro lớn về kiện chống bán phá giá mà các hiệp hội ngành hàng của Mỹ và châu Âu đều rất có kinh nghiệm trong vấn đề này.

Đầu tư nước ngoài: Thách thức trong cơ hội
Hội nhập mang đến một làn sóng đầu tư lớn vào ngành nhựa, đây có thể là cơ hội để giải quyết công ăn việc làm, chuyển giao công nghệ… Nhưng nếu là các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì đây lại là một sức ép cạnh tranh rất lớn đối với các doanh nghiệp nhựa trong nước. Đơn cử như trường hợp Tập đoàn SCG của Thái Lan đã đầu tư hơn 30 tỷ USD để đầu tư xây dựng hai nhà máy hóa dầu, chuyên sản xuất nguyên liệu hạt nhựa tại Việt Nam. Đây cũng là hai dự án đầu tư sản xuất nguyên liệu nhựa lớn nhất tại Việt Nam tính đến thời điểm này. Điều này đã khiến cho doanh nghiệp nội thay vì hưởng lợi từ hiệp định sẽ vấp phải sức cạnh tranh khốc liệt ngay thị trường nội địa. Thách thức rất lớn này buộc các doanh nghiệp trong nước phải liên kết với nhau, qua nhiều hình thức khác nhau để nhanh chóng đầu tư, nâng cấp năng lực cạnh tranh trên quy mô lớn của ngành.

Các tiêu chuẩn môi trường: “Khó đầu dễ sau”
Xu hướng các thị trường nhập khẩu đặt ra các quy định về môi trường ngày càng phổ biến hơn. Các cam kết về môi trường cũng trở thành xu hướng trong các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đã và đang tham gia đàm phán và kí kết.

Đây là một thách thức không nhỏ đối với ngành nhựa, nhất là khi các doanh nghiệp chưa có thói quen thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, trước mắt và trong dài hạn. Tuy nhiên, “khó đầu, dễ sau”, một khi quy trình sản xuất đã được thiết lập theo hướng bảo vệ môi trường, ngành nhựa sẽ phát triển theo hướng bền vững hơn và đáp ứng tốt hơn các quy định về kỹ thuật.
Ngành nhựa hội nhập: Cơ hội trong thách thức

Trong thực tiễn của ngành nhựa, để khắc phục được vấn đề về môi trường, cần rà soát và vượt qua tất cả những “cửa ải” có nguy cơ gây ô nhiễm, trong các khâu đoạn của sản xuất.

Như vậy, trước cửa khu vườn “quả ngọt” từ hội nhập, các doanh nghiệp ngành nhựa, cũng như nhiều ngành khác, buộc phải lựa chọn tiến lên để nắm lấy cơ hội và hưởng lợi hay tự đào thải mình khỏi cuộc chơi mới. Có những cửa ải cần vượt qua, và doanh nghiệp rất cần một sự chuẩn bị bài bản và chuyên nghiệp.

Bảo Linh - Tạp Chí Công Thương.



Hỗ trợ --> Cước vận tải đường biển
Hỗ trợ --> 
Cước vận tải đường biển quốc tế
Xem thêm -->cong ty van chuyen duong bien
Xem thêm -->công ty vận chuyển đường biển
Xem thêm -->Dịch vụ giao nhận hàng hóa đa phương thức
Xem thêm -->dich vu giao nhan hang hoa da phuong thuc